Tại dự thảo lần thứ 14 Nghị định về kinh doanh xăng dầu, Bộ Công Thương đề xuất phương án xử lý Quỹ bình ổn giá.
Hiện tiền quỹ được để tại các doanh nghiệp đầu mối, hạch toán và theo dõi riêng. Theo dự thảo, các đầu mối phải chốt số dư quỹ trước khi nghị định mới có hiệu lực. Sau đó, toàn bộ số tiền này được chuyển vào tài khoản riêng do Bộ Tài chính mở tại Kho bạc Nhà nước.
Những đầu mối bị thu hồi giấy phép hoặc dừng kinh doanh, nếu chưa nộp hoặc nộp chưa đủ tiền dư quỹ, phải chuyển toàn bộ số còn thiếu vào tài khoản tại Kho bạc. Trong vòng 12 tháng từ khi nghị định có hiệu lực, các đầu mối phải thực hiện kiểm toán độc lập chuyên đề về Quỹ bình ổn.
Trường hợp kiểm toán xác định số tiền quỹ cao hơn số đã báo cáo, doanh nghiệp phải nộp thêm phần chênh lệch vào tài khoản tại Kho bạc. Nếu kiểm toán xác định thấp hơn, số dư được tính theo số liệu doanh nghiệp đã báo cáo. Trường hợp doanh nghiệp nộp thừa, liên Bộ Tài chính - Công Thương làm thủ tục hoàn trả.
Doanh nghiệp có số dư âm cũng phải xác định lại qua kiểm toán. Trên cơ sở này, liên Bộ thống nhất phương án, gửi ủy nhiệm chi tới Kho bạc Nhà nước để hoàn trả cho doanh nghiệp.
Sau khi hoàn tất việc bù trừ số dư, Bộ Tài chính bàn giao tài khoản Quỹ bình ổn giá xăng dầu tại Kho bạc Nhà nước cho Bộ Công Thương. Bộ này chủ trì, phối hợp Bộ Tài chính xây dựng phương án quyết toán, hoàn trả khoản ngân sách đã tạm ứng cho quỹ.
Nhân viên tại một cửa hàng xăng dầu bơm nhiên liệu cho khách. Ảnh: Hoàng Giang
Ngoài thay đổi về quản lý Quỹ bình ổn, dự thảo lần này tiếp tục đề xuất doanh nghiệp đầu mối, thương nhân phân phối ngoài hệ thống được tự quyết giá bán (buôn, lẻ) theo cơ chế thị trường.
Trong đó, giá bán lẻ của đầu mối được tính theo công thức gồm giá mua xăng dầu, chi phí (tạo nguồn, kinh doanh định mức, lợi nhuận) và các loại thuế (nhập khẩu, tiêu thụ đặc biệt, giá trị gia tăng...). Giá mua, chi phí tạo nguồn và lợi nhuận do doanh nghiệp tự xác định theo thực tế kinh doanh.
Chi phí kinh doanh định mức ban đầu áp dụng theo mức Bộ Công Thương công bố. Sau đó, khoản này được điều chỉnh hàng năm theo CPI và rà soát định kỳ ba năm một lần. Sau mỗi lần điều chỉnh, đầu mối phải kê khai giá với Bộ và UBND các tỉnh nơi có hệ thống phân phối, và công khai tại cửa hàng, website.
Thương nhân phân phối thuộc hệ thống của một đầu mối không được bán cao hơn giá do đơn vị cấp hàng đưa ra. Còn nhà phân phối không thuộc hệ thống của đầu mối được tự quyết giá theo thị trường. Tại địa bàn xa cảng, kho đầu mối hoặc cơ sở sản xuất (vùng 2), doanh nghiệp đầu mối được quyết giá bán thực tế cao hơn, mức chênh tối đa 2%.
Dự thảo cũng đưa ra hai phương án về nguồn hàng của thương nhân phân phối. Phương án 1, thương nhân phân phối được ký hợp đồng với một hoặc nhiều đầu mối. Phương án 2, cho phép họ mua từ một hoặc nhiều đầu mối và thương nhân khác.
Ở khâu đầu mối, doanh nghiệp phải sở hữu kho tiếp nhận với tổng sức chứa tối thiểu 15.000 m3, có ít nhất 10 cửa hàng bán lẻ thuộc sở hữu và tối thiểu 40 thương nhân phân phối chỉ thuộc hệ thống của mình.
Mỗi đầu mối được phân giao tổng nguồn xăng dầu tối thiểu không thấp hơn 300.000 m3 một năm, trừ nhiên liệu hàng không. Doanh nghiệp cũng phải duy trì dự trữ lưu thông tối thiểu tương đương 20 ngày cung ứng.
Nghị định mới khi có hiệu lực dự kiến thay thế các Nghị định 83/2014, 95/2021 và 80/2023 về kinh doanh xăng dầu.
Phương Dung