Trả lời:
Mũi và miệng là hai đường đưa không khí vào phổi. Hít thở giúp cơ thể được cung cấp lượng oxy cần thiết, đồng thời đào thải CO₂ ra khỏi cơ thể. Khi hít thở bằng mũi, lông mao và lớp niêm mạc trong mũi giữ lại bụi, vi khuẩn và các tác nhân gây dị ứng, góp phần bảo vệ phổi khỏi nguy cơ nhiễm trùng. Ngoài ra, hít thở qua mũi giúp duy trì nhịp thở chậm, đều, giữ mức CO2 ổn định, từ đó hỗ trợ tuần hoàn máu, kiểm soát huyết áp.
Không khí đi qua mũi được làm ấm, ẩm phù hợp với nhiệt độ cơ thể trước khi vào phổi, tránh gây khô rát đường thở. Quá trình này cũng giải phóng nitric Oxide (NO) - chất có tác dụng giãn mạch, góp phần mở rộng đường kính mạch máu, cải thiện lưu thông oxy toàn thân.
Khi bị nghẹt mũi, luồng khí đi qua đường mũi bị cản trở, người bệnh có xu hướng thở bằng miệng. Không khí đi qua miệng không được làm ấm, làm ẩm và lọc bụi bẩn như khi đi qua mũi, dễ gây khô miệng, rát họng và kích ứng niêm mạc đường hô hấp trên.
Thói quen thở bằng miệng làm gia tăng tình trạng ngủ ngáy, khiến hội chứng ngưng thở khi ngủ chuyển biến nặng hơn, tạo áp lực lên hệ tim mạch và tăng nguy cơ cao huyết áp. Ngoài ra, thở bằng miệng kéo dài cũng gây khô miệng, hôi miệng, tăng nguy cơ mắc các bệnh lý răng miệng như viêm nướu, sâu răng và bệnh nha chu. Ở trẻ em đang phát triển, tình trạng thở miệng kéo dài có thể ảnh hưởng đến sự phát triển răng - hàm - mặt, thúc đẩy thay đổi khớp cắn và cấu trúc khuôn mặt.
Bác sĩ Linh đang tư vấn cho một người bệnh. Ảnh minh họa: Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh
Thở bằng miệng khi cảm lạnh, viêm mũi trong thời gian ngắn thường không nguy hiểm. Tuy nhiên, nếu nghẹt mũi kéo dài và phải thở bằng miệng liên tục, bạn nên đến các cơ sở y tế chuyên khoa Tai Mũi Họng để bác sĩ kiểm tra.
Nghẹt mũi mạn tính có thể là dấu hiệu của viêm mũi xoang, viêm mũi dị ứng, polyp mũi, vẹo vách ngăn hoặc phì đại cuốn mũi. Chẩn đoán và điều trị triệt đúng nguyên nhân giúp giảm nghẹt mũi, hạn chế thở bằng miệng.
BS.CKI Châu Trà Linh
Trung tâm Tai Mũi Họng
Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP HCM