Sau khi làm giá đỗ, tại Công ty cổ phần Sản xuất và Thương mại Giá đỗ Tiến sĩ, phần vỏ đỗ xanh là phụ phẩm cần xử lý, nếu bỏ đi sẽ khá lãng phí. Do đó, doanh nghiệp đã nghiên cứu, sơ chế và ứng dụng nguồn nguyên liệu này vào những sản phẩm mới thông qua công nghệ sinh học và công nghệ lên men.
TS Đỗ Ngọc Chung, Chủ tịch HĐQT công ty, cho biết không chỉ tạo ra sản phẩm, doanh nghiệp cần tạo ra giá trị đồng thời cho khách hàng, cộng đồng và môi trường, còn khoa học công nghệ phải trở thành công cụ để biến những giá trị đó thành những kết quả có thể đo lường được.
"ESG với doanh nghiệp chúng tôi không bắt đầu từ một bản báo cáo hàng trăm trang, mà bắt đầu từ việc ngày mai chúng tôi làm tốt hơn hôm nay một điều gì đó cho con người và cho môi trường”, ông Chung nhìn nhận.
Khi phụ phẩm, phế phẩm được nhìn bằng một cách khác
Một dây chuyền sản xuất thường được hình dung bằng những gì nó tạo ra, đó thường là sản phẩm, doanh thu và lợi nhuận. Nhưng phía sau những thành quả ấy còn có một dòng vật chất ít được chú ý như vỏ, bã, xơ, mùn, nguyên liệu dư thừa, sản phẩm lỗi hoặc các loại phế liệu phát sinh trong quá trình sản xuất.
Nếu không được tận dụng, những dòng vật chất này trở thành chi phí. Doanh nghiệp phải thu gom, vận chuyển, xử lý, môi trường tiếp tục phải tiếp nhận phần chất thải còn lại.
Nhưng nếu nhìn theo một cách khác, những nguồn tài nguyên chưa được khai thác hết giá trị. Đó chính là điểm khởi đầu của tư duy kinh tế tuần hoàn. Thay vì chỉ tìm cách xử lý chất thải sau sản xuất, doanh nghiệp tìm cách đưa vật liệu trở lại chu trình để tiếp tục tạo ra giá trị.
Sản phẩm trà được tạo ra từ vỏ đỗ xanh (Ảnh: Trí Anh).
Ông Đỗ Ngọc Chung nêu, ý tưởng về trà vỏ đỗ xanh được các lãnh đạo doanh nghiệp này lên ý tưởng, chính thức cho ra mắt sản phẩm vào tháng 12/2023. Loại trà này kết hợp 2 thành phần, đó là vỏ đỗ xanh và cỏ ngọt thiên nhiên.
Doanh nghiệp cũng tìm cách kéo dài vòng đời của nguyên liệu bằng việc phát triển các sản phẩm lên men, tạo ra đồ uống Kombucha được tạo ra từ quá trình lên men tự nhiên. Ông Chung nêu chính từ tư duy tận dụng những gì sẵn có trong chuỗi sản xuất, doanh nghiệp từng bước xây dựng hệ sinh thái sản phẩm, hướng tới giảm lượng phụ phẩm phải bỏ đi, đồng thời gia tăng giá trị trên cùng một nguồn nguyên liệu.
Tư duy ngược: Không hỏi xử lý thế nào mà hỏi tạo ra gì
Sự khác biệt lớn nhất có lẽ nằm ở cách đặt câu hỏi. Với tư duy truyền thống, khi phụ phẩm xuất hiện, doanh nghiệp thường nghĩ sẽ xử lý ở đâu, chi phí bao nhiêu. Nhưng với tư duy tuần hoàn, câu hỏi được đảo ngược, đó là có thể tạo ra sản phẩm gì từ phụ phẩm, đưa phụ phẩm trở lại công đoạn nào, kết nối với doanh nghiệp nào đang cần triển khai loại nguyên liệu này? Chỉ một sự thay đổi trong câu hỏi đã mở ra một cách tiếp cận khác.
Không còn là khoản chi phí phải xử lý, phụ phẩm có thể trở thành nguồn nguyên liệu thứ cấp, một sản phẩm mới hoặc thậm chí một mô hình kinh doanh mới. Tư duy này cũng phù hợp với định hướng phát triển kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp mà cơ quan quản lý đang thúc đẩy, theo hướng tổ chức lại chuỗi sản xuất theo mô hình “cộng sinh”, tận dụng tối đa tài nguyên và giảm thiểu chất thải.
Một điểm đáng chú ý là tận dụng phụ phẩm không nên chỉ được nhìn như một hoạt động “làm vì môi trường”. Câu chuyện này cần được nhìn nhận dưới góc độ quản lý Nhà nước, chuyện của từng thành tố trong nền kinh tế. Nếu được xử lý và tái sử dụng hiệu quả 50% phụ phẩm nông nghiệp, Việt Nam có thể giảm khoảng 40 triệu tấn CO2 mỗi năm. Với doanh nghiệp, đây trước hết có thể là một bài toán hiệu quả.
Tạo sản phẩm từ phế phẩm góp phần giúp doanh nghiệp giải bài toán kinh tế (Ảnh minh họa: AI).
Ông Lưu Ngọc Quyến, Viện trưởng Viện Khoa học Kỹ thuật Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc, cho biết, nếu được xử lý hợp lý, các phụ phẩm này hoàn toàn có thể tái sử dụng hiệu quả, như chế biến trà cascara từ vỏ cà phê, sản xuất phân bón hữu cơ hoặc làm nguyên liệu cho các hoạt động chế biến sâu.
Hết năm 2025, diện tích cà phê tại Sơn La đạt 24.300ha, sản lượng hơn 37.700 tấn, trong đó có 1.120 ha cà phê đặc sản. Ngành chế biến cũng phát triển mạnh với 5 cơ sở quy mô công nghiệp và hơn 15 cơ sở sơ chế, đáp ứng trên 50% nhu cầu chế biến quả tươi.
Tuy nhiên, Sơn La vẫn đối diện thách thức lớn về xử lý chất thải và phụ phẩm trong chế biến cà phê. Với đặc thù cà phê chè (Arabica) chế biến ướt, mỗi năm toàn tỉnh phát sinh khoảng 90.000 tấn vỏ quả. Nếu không được xử lý đúng cách, nguồn phế phẩm này có thể trở thành nguồn gây ô nhiễm nghiêm trọng.
Một số doanh nghiệp, trong đó có Công ty cổ phần Tập đoàn Minh Tiến đã triển khai áp dụng mô hình kinh tế tuần hoàn vào sản xuất, tận dụng gần như toàn bộ thành phần từ quả cà phê. Phế phẩm trong chế biến của sản phẩm này sẽ trở thành nguyên liệu sản xuất sản phẩm khác.
Cà phê hạt xanh, ngoài được xuất khẩu sang các thị trường khó tính, còn được dùng để sản xuất cà phê rang xay, hòa tan, trà từ vỏ thịt quả cà phê, sản phẩm sinh học, phân bón hữu cơ có nguồn gốc bã và vỏ trấu cà phê... xuất khẩu sang thị trường Mỹ, châu Âu, Nhật Bản, Nhật Bản.
Giá trị từ phế phẩm
Khi một phần nguyên liệu được thu hồi, nhu cầu mua nguyên liệu mới có thể giảm. Khi chất thải được đưa vào chu trình khác, chi phí xử lý có thể giảm. Khi phụ phẩm trở thành sản phẩm mới, doanh nghiệp có thêm khả năng mở rộng danh mục và thị trường.
Còn với môi trường, lợi ích nằm ở việc giảm khai thác tài nguyên nguyên sinh, giảm lượng chất thải phải xử lý và hạn chế phát thải từ việc đốt hoặc phân hủy không kiểm soát.
Vỏ cà phê thải bỏ được chế biến thành phân bón (Ảnh: Minh Tiến Coffee).
Lợi nhuận và môi trường, 2 mục tiêu tưởng như khác nhau, vì thế có thể gặp nhau trong cùng một mô hình sản xuất. Điều này cũng chính là tinh thần của ESG, đó là tăng trưởng doanh nghiệp ngày càng được nhìn cùng với cách doanh nghiệp sử dụng tài nguyên, quản lý chất thải và kiểm soát tác động môi trường.
Từ góc nhìn ấy, phế phẩm và phụ phẩm không còn là điểm cuối của sản xuất. Nó có thể là nguyên liệu của một sản phẩm mới, là cơ hội của một mô hình kinh doanh mới và là một bước tiến tới một nền kinh tế sử dụng tài nguyên tiết kiệm hơn, ít chất thải hơn và thân thiện hơn với môi trường.