Bỏ qua điều hướng

Doanh nghiệp nhỏ và vừa kiến nghị 'nóng' về tín dụng

Doanh nghiệp nhỏ và vừa kiến nghị 'nóng' về tín dụng
Nguồn ảnh: Tiền Phong

Doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm tới 98% số doanh nghiệp đang hoạt động nhưng khả năng tiếp cận vốn vẫn còn nhiều điểm nghẽn. Theo đó, doanh nghiệp đề xuất chuyển mạnh từ thẩm định dựa vào tài sản bảo đảm sang đánh giá dòng tiền, đơn hàng, hợp đồng và khả năng tạo giá trị trong tương lai. LPBank khơi t...

Hơn 4 triệu tỷ đồng tín dụng

Tại Hội nghị “Tăng cường khả năng tiếp cận vốn tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa” sáng 18/9, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Ngọc Cảnh cho biết, doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm khoảng 98% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động, là lực lượng đông đảo, năng động, hiện diện ở hầu hết ngành, lĩnh vực và có vai trò quan trọng trong tạo việc làm, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế - xã hội.

Theo Phó Thống đốc, tín dụng là một trong những nguồn lực chủ yếu giúp doanh nghiệp duy trì và phục hồi sản xuất kinh doanh. Đến ngày 28/8/2026, dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế đạt gần 21 triệu tỷ đồng, tăng 10,2% so với cuối năm 2025. Trong đó, dư nợ tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa đạt trên 4 triệu tỷ đồng, tăng 12,4% so với cuối năm 2025 (tốc độ tăng cao hơn so với tăng trưởng tín dụng chung của nền kinh tế 10,2%) và chiếm khoảng 20% tổng dư nợ của nền kinh tế.

canh-7887.jpg
Theo Phó Thống đốc Nguyễn Ngọc Cảnh, dư nợ tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa đạt trên 4,1 triệu tỷ đồng. Ảnh: SBV.

Phó Thống đốc cho biết, trong tháng 8, Ngân hàng Nhà nước đã chỉ đạo các tổ chức tín dụng triển khai nhiều chương trình tín dụng hướng tới doanh nghiệp nhỏ và vừa và các doanh nghiệp, cá nhân hoạt động trong những lĩnh vực tạo động lực tăng trưởng.

Sau hơn một tháng triển khai, từ 4 ngân hàng thương mại nhà nước đăng ký với gói tín dụng quy mô 220.000 tỷ đồng, đến nay đã có 19 ngân hàng thương mại công bố thông tin về các chương trình, sản phẩm ưu đãi với quy mô trên 407.000 tỷ đồng. Lãi suất của các chương trình này thấp hơn khoảng 1-2%/năm so với mức lãi suất cho vay bình quân cùng kỳ hạn. Tuy nhiên, khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn còn những khó khăn, vướng mắc cần tiếp tục tháo gỡ.

Không hạ chuẩn tín dụng

Ông Nguyễn Văn Thân - Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam - cho rằng, cần thay đổi cách cung cấp tín dụng đối với khu vực này, thay vì chỉ tập trung vào đơn giản hóa thủ tục hoặc hạ chuẩn cho vay.

“Ngân hàng thương mại rất giỏi trong việc nhìn dòng tiền. Doanh nghiệp nào có hàng hóa, sản phẩm cung cấp được cho các chuỗi lớn thì ngân hàng thậm chí còn chủ động tìm đến mời vay. Ngân hàng có tiền nhưng cũng phải bảo đảm an toàn, không thể yêu cầu cho vay bằng mọi giá. Quan trọng là phải có cơ chế để ngân hàng có thể cho vay đúng đối tượng, đúng dòng tiền”, ông Thân nói.

thanh-419.jpg
Ông Nguyễn Văn Thân - Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam. Ảnh: SBV.

Ông Đỗ Văn Vẻ - Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Hưng Yên - cho biết, doanh nghiệp nhỏ và vừa có nhu cầu vốn lớn, trong khi ngân hàng cũng cần những khách hàng tốt. Tuy nhiên, giữa nhu cầu vốn của doanh nghiệp và điều kiện tiếp cận tín dụng vẫn tồn tại khoảng cách, liên quan đến tài sản bảo đảm, năng lực quản trị, mức độ minh bạch tài chính.

“Ngân hàng không hạ chuẩn tín dụng nhưng đổi mới cách đánh giá tín dụng doanh nghiệp. Không chỉ nhìn doanh nghiệp hôm nay đang có bao nhiêu tài sản, mà cần đánh giá cả năng lực doanh nghiệp có thể tạo ra bao nhiêu giá trị trong tương lai”, ông Vẻ nói và đề nghị ngân hàng đánh giá doanh nghiệp dựa trên dòng tiền, hợp đồng, đơn hàng, lịch sử thanh toán, dữ liệu thuế và hiệu quả phương án kinh doanh.

tc.jpg
Hội nghị “Tăng cường khả năng tiếp cận vốn tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa”, sáng 18/9.

Bà Nguyễn Thị Lan Hương - Ủy viên Đoàn Chủ tịch Trung ương Hội Doanh nhân trẻ Việt Nam - cho rằng, doanh nghiệp không chỉ quan tâm có vay được vốn hay không, mà còn chú trọng chi phí vốn, tài sản bảo đảm, kỳ hạn vay, thủ tục và thời gian giải ngân.

“Chúng tôi không đề xuất nới lỏng các yêu cầu về an toàn tín dụng mà đề nghị các tổ chức tín dụng tiếp tục đổi mới phương thức đánh giá rủi ro”, bà Hương nói, đồng thời kiến nghị ngân hàng thiết kế kỳ hạn vay, thời gian ân hạn, phương thức trả nợ hợp với chu kỳ đầu tư của từng ngành.

Doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm khoảng 98% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động, giữ vai trò quan trọng trong tạo việc làm, duy trì sản xuất và thúc đẩy tăng trưởng. Tuy nhiên, quy mô đông đảo chưa đồng nghĩa với khả năng tiếp cận vốn thuận lợi, khi nhiều doanh nghiệp vẫn vướng tài sản bảo đảm, năng lực quản trị và mức độ minh bạch tài chính. Tại hội nghị sáng 18/9, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Ngọc Cảnh cho biết đến ngày 28/8/2026, dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế đạt gần 21 triệu tỷ đồng, tăng 10,2% so với cuối năm 2025. Dư nợ dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa đạt trên 4 triệu tỷ đồng, tăng 12,4%, cao hơn tốc độ tăng tín dụng chung và chiếm khoảng 20% tổng dư nợ. Những con số này cho thấy dòng vốn vào khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa đang cải thiện, nhưng vẫn chưa tương xứng với tỷ trọng 98% về số lượng doanh nghiệp. Nguồn cung tín dụng ưu đãi cũng được mở rộng nhanh chóng sau chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước trong tháng 8. Từ gói 220.000 tỷ đồng do 4 ngân hàng thương mại nhà nước đăng ký, đến nay 19 ngân hàng đã công bố các chương trình, sản phẩm ưu đãi với tổng quy mô trên 407.000 tỷ đồng, lãi suất thấp hơn khoảng 1 đến 2% mỗi năm so với mức cho vay bình quân cùng kỳ hạn. Vấn đề cốt lõi vì thế không chỉ nằm ở lượng vốn hay lãi suất, mà còn ở phương thức nhận diện doanh nghiệp có khả năng trả nợ. Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam Nguyễn Văn Thân nhấn mạnh ngân hàng không thể cho vay bằng mọi giá, mà cần cơ chế cấp vốn đúng đối tượng, đúng dòng tiền. Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Hưng Yên Đỗ Văn Vẻ cũng kiến nghị không hạ chuẩn tín dụng, nhưng đổi mới cách đánh giá, chuyển từ phụ thuộc nặng vào tài sản bảo đảm sang xem xét dòng tiền, đơn hàng, hợp đồng và năng lực tạo giá trị trong tương lai. Cách tiếp cận này có thể thu hẹp khoảng cách giữa nhu cầu vốn và yêu cầu an toàn tín dụng, đồng thời buộc doanh nghiệp nâng cao quản trị và minh bạch tài chính.