Bỏ qua điều hướng
•

Doanh nghiệp nhỏ và vừa liên kết tạo sức mạnh

Doanh nghiệp nhỏ và vừa liên kết tạo sức mạnh
Nguồn ảnh: Thanh Niên

Trong một nền kinh tế mà hơn 97% doanh nghiệp nhỏ và vừa, bài toán liên kết, tạo ra các hệ sinh thái... là yêu cầu bức thiết để tồn tại và cạnh tranh. Đây cũng là xu hướng mà nhiều hộ kinh doanh, hợp tác xã và các doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ đang thực hiện trong kỷ nguyên hội nhập sâu rộng của kinh t...

Những làng nghề lớn mạnh nhờ cộng hưởng lợi thế

Làng nước mắm Nam Ô (Đà Nẵng) từng trải qua giai đoạn khó khăn khi nghề truyền thống dần suy giảm, nhiều người chuyển sang công việc khác có thu nhập tốt hơn. Đến khi nghề được khôi phục, một bài toán mới lại xuất hiện, mỗi hộ tự sản xuất, tự đóng chai, tự tìm khách hàng; quy mô nhỏ, bao bì và cách tiếp cận thị trường khác nhau khiến giá trị của một sản phẩm có lịch sử lâu đời khó được phát huy hết.

Sự thay đổi chỉ đến khi những hộ làm mắm từng bước liên kết thông qua hội làng nghề và các hợp tác xã (HTX). Các gia đình vẫn giữ phương thức sản xuất riêng nhưng bắt đầu có những đầu mối chung trong xây dựng thương hiệu, nâng chất lượng, xúc tiến thương mại và phát triển du lịch làng nghề. Đến đầu năm 2024, Hội Làng nghề nước mắm Nam Ô có 69 hội viên, trong đó có 3 HTX, 10 cơ sở chế biến quy mô tương đối và 17 cơ sở đăng ký thương hiệu riêng. Sản lượng tiêu thụ hằng năm đạt khoảng 200.000 - 300.000 lít, tạo việc làm cho khoảng 220 lao động. Một số sản phẩm của làng nghề đã được công nhận OCOP. Điều đáng chú ý là liên kết không buộc các hộ phải từ bỏ cơ sở hay thương hiệu riêng. Họ vẫn có thể cạnh tranh với nhau, nhưng những việc một hộ khó thực hiện như giữ giá trị chung của làng nghề, quảng bá hay mở thị trường được thực hiện ở quy mô lớn hơn.

Liên kết tạo sức mạnh - Ảnh 1.

Theo các chuyên gia, để hình thành một hệ sinh thái doanh nghiệp thực chất, doanh nghiệp lớn phải giữ vai trò đầu kéo. Trong ảnh: Sản xuất ô tô điện tại nhà máy VinFast ở Hà Tĩnh

ảnh: VF

Tương tự, tại làng mộc Liên Hà (Hà Nội), thay vì mỗi gia đình phải sở hữu đầy đủ máy móc và tự thực hiện mọi khâu, chuỗi sản xuất ở đây hình thành từ nhiều nhóm hộ có chức năng khác nhau gồm đơn vị cung cấp nguyên liệu, xưởng xẻ, sấy, gia công CNC, sơn và các hộ sản xuất, kinh doanh sản phẩm hoàn chỉnh. Các cơ sở vẫn độc lập, nhưng năng lực của cả làng được hình thành từ sự phân công. Một hộ không cần đầu tư tất cả máy móc nếu có thể thuê một hộ khác thực hiện khâu xẻ, sấy hay CNC. Không phải từng xưởng trở nên rất lớn, nhưng khi hàng trăm xưởng kết nối, cả cụm sản xuất hình thành một năng lực mà một hộ riêng lẻ khó có thể tạo ra.

Trao đổi với PV Thanh Niên, về vấn đề liên kết và cộng lực của các doanh nghiệp, hộ kinh doanh nhỏ, TS Phùng Văn Đông, Giám đốc Viện Công nghệ châu Á tại Việt Nam (AIT Vietnam), kể câu chuyện từ làng mộc quê ông ở đồng bằng sông Hồng. Trước đây, thợ trong làng nổi tiếng giỏi nghề, người từ nơi khác phải tìm đến học hỏi. Nhưng vài chục năm sau, có những người từng đến đây học nghề lại xây dựng được doanh nghiệp, mở thị trường và tổ chức chuỗi sản xuất lớn. Trong khi không ít thợ giỏi tại quê ông vẫn quanh quẩn với nhà xưởng gia đình, thậm chí đi làm thuê cho người từng học nghề mình.

"Vì vậy, khoảng cách không hẳn nằm ở tay nghề. Một người có thể làm ra sản phẩm rất tốt, một doanh nghiệp có thể sở hữu bí quyết riêng, nhưng nếu mỗi người chỉ nhìn vào xưởng của mình, tự tìm khách, tự mua nguyên liệu, đầu tư máy móc và tự mở thị trường, những năng lực giỏi vẫn chỉ là những năng lực rời rạc", TS Phùng Văn Đông nói. Theo ông Đông, doanh nghiệp vẫn cạnh tranh ở những nơi cần tạo khác biệt, nhưng có thể cùng làm những việc mà hợp tác mang lại giá trị lớn hơn: mua nguyên liệu, dùng công nghệ, xây dựng tiêu chuẩn, logistics, đào tạo nhân lực, mở thị trường hoặc cùng thực hiện những đơn hàng mà một doanh nghiệp riêng lẻ không đủ sức đảm nhận.

Liên kết tạo sức mạnh - Ảnh 2.

Công nghệ và chuyên môn hóa giúp doanh nghiệp nhỏ nâng năng lực khi tham gia chuỗi giá trị. Trong ảnh: Công nhân Công ty CP Khuôn chính xác Minh Đạt vận hành máy gia công chính xác tại nhà máy

ẢNH: NHẬT THỊNH

Không thể ra "biển lớn" một mình

Bài toán ấy càng quan trọng khi nhìn vào cấu trúc doanh nghiệp Việt Nam với doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm hơn 97% tổng số đơn vị đang hoạt động. Đây là lực lượng đông đảo, linh hoạt nhưng cũng thường yếu thế hơn trong chuỗi giá trị vì hạn chế về vốn, công nghệ, quản trị và nguồn nhân lực. Trong môi trường kinh doanh trước đây, một doanh nghiệp nhỏ vẫn có thể sống tốt bằng một sản phẩm, một nhóm khách hàng quen hay một lợi thế địa phương. Nhưng khi thị trường mở rộng, công nghệ thay đổi nhanh, tiêu chuẩn về chất lượng, môi trường, truy xuất nguồn gốc và chuỗi cung ứng ngày càng cao, cách phát triển tự làm tất cả bắt đầu bộc lộ giới hạn. Một doanh nghiệp nhỏ và vừa khó đồng thời đầu tư mạnh cho công nghệ, nghiên cứu, dữ liệu, thương hiệu, logistics, nhân lực và hệ thống phân phối. Nếu doanh nghiệp nào cũng tự xây lại toàn bộ những năng lực này, chi phí sẽ rất lớn. Vì vậy, bài toán là làm sao để doanh nghiệp nhỏ có thể tiếp cận những nguồn lực lớn hơn chính mình.

Đòi hỏi liên kết từ thực tế đã được đưa vào chính sách. Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa dành riêng cơ chế cho doanh nghiệp tham gia cụm liên kết ngành, chuỗi giá trị. Doanh nghiệp có thể được hỗ trợ đào tạo về công nghệ, kỹ thuật sản xuất, tiêu chuẩn, chất lượng và kết nối kinh doanh. Nghị định 80/2021 tiếp tục cụ thể hóa mô hình này. Một cụm liên kết ngành có thể gồm những doanh nghiệp cùng ngành hoặc các lĩnh vực liên quan, vừa cạnh tranh vừa hợp tác; cùng mua nguyên liệu, bán sản phẩm, sử dụng thương hiệu hoặc có các hợp đồng hợp tác. Chuỗi giá trị cũng phải có doanh nghiệp đầu chuỗi và các doanh nghiệp nhỏ và vừa có tiềm năng cung ứng sản phẩm, dịch vụ cho doanh nghiệp dẫn dắt.

Nghị quyết 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân yêu cầu xây dựng các chuỗi liên kết theo cụm ngành, chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng; đồng thời khuyến khích doanh nghiệp lớn dẫn dắt chuỗi cung ứng nội địa, kết nối với doanh nghiệp nhỏ và vừa và hộ kinh doanh. Kế hoạch triển khai sau đó cũng đặt vấn đề xây dựng chính sách cho doanh nghiệp lớn dẫn dắt chuỗi cung ứng nội địa nếu có cam kết chuyển giao công nghệ, hỗ trợ kỹ thuật, đào tạo nhân lực và sử dụng sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp nhỏ và vừa. Điều này cho thấy bài toán phát triển doanh nghiệp Việt đang chuyển dần từ mục tiêu có "nhiều doanh nghiệp" sang hình thành những mạng lưới doanh nghiệp mạnh. Trong mạng lưới đó, không phải doanh nghiệp nào cũng phải lớn; một doanh nghiệp có thể chỉ vài chục nhân sự nhưng rất giỏi một công nghệ; một đơn vị khác mạnh nguyên liệu; doanh nghiệp khác có thương hiệu hay hệ thống phân phối. Khi từng năng lực chuyên biệt kết nối được với nhau, sức mạnh của cả chuỗi có thể lớn hơn nhiều tổng số nguồn lực của từng doanh nghiệp riêng lẻ.

Liên kết tạo sức mạnh - Ảnh 3.

Nâng cao năng lực công nghệ là điều kiện để doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia chuỗi cung ứng của doanh nghiệp lớn

ẢNH: NHẬT THỊNH

Lực kéo từ doanh nghiệp lớn

Để hình thành một hệ sinh thái doanh nghiệp thực chất, các chuyên gia cho rằng quan hệ giữa doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp nhỏ và startup phải vượt khỏi mô hình mua bán đơn thuần, tiến tới cùng tạo giá trị, cùng nâng cấp năng lực và chia sẻ lợi ích.

TS Dương Đức Minh, chuyên gia thực hành kinh tế bền vững, tư vấn khởi nghiệp và phát triển hệ sinh thái doanh nghiệp, nhận xét: Điểm quan trọng nhất là chuyển từ "quan hệ giao dịch" sang "quan hệ cùng tạo giá trị". Nếu doanh nghiệp lớn chỉ tìm nhà cung cấp có giá thấp nhất, doanh nghiệp nhỏ và vừa chỉ nhận đơn hàng, còn startup cung cấp một giải pháp ngắn hạn, các bên mới hình thành chuỗi giao dịch chứ chưa phải hệ sinh thái. Doanh nghiệp lớn giữ vai trò dẫn dắt nhưng không có nghĩa phải bao bọc doanh nghiệp nhỏ. Mối liên kết chỉ bền vững khi sự trưởng thành của doanh nghiệp nhỏ và vừa đồng thời làm tăng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đầu đàn. Chẳng hạn, khi doanh nghiệp lớn hỗ trợ nhà cung cấp trong nước cải thiện quy trình, công nghệ, tiêu chuẩn chất lượng và năng lực quản trị, doanh nghiệp nhỏ và vừa được nâng cấp. Đổi lại, doanh nghiệp lớn có chuỗi cung ứng ổn định hơn, chất lượng tốt hơn, khả năng đổi mới nhanh hơn và giảm phụ thuộc vào nguồn cung bên ngoài.

Điều đó có nghĩa sau một thời gian tham gia chuỗi, doanh nghiệp nhỏ phải có quản trị tốt hơn, công nghệ tiến bộ hơn, lao động có kỹ năng cao hơn, sản phẩm đạt tiêu chuẩn cao hơn và thị trường được mở rộng. Nếu sau hàng trăm đơn hàng, doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn chỉ thực hiện một công đoạn đơn giản, biên lợi nhuận thấp và dễ bị thay thế, mối quan hệ đó vẫn chủ yếu là thuê gia công.

Một yêu cầu khác là chuyên môn hóa nhưng không tạo lệ thuộc. Doanh nghiệp nhỏ và vừa không nhất thiết phải tự làm mọi thứ mà cần tập trung vào lĩnh vực mình có lợi thế. Tuy nhiên, qua quá trình liên kết, doanh nghiệp phải từng bước tích lũy công nghệ, tri thức, dữ liệu, thương hiệu hoặc năng lực quản trị riêng. Hệ sinh thái tốt phải khiến doanh nghiệp mạnh hơn nhờ liên kết, chứ không yếu đi vì phụ thuộc.

Cùng quan điểm doanh nghiệp lớn phải giữ vai trò đầu kéo, TS Phùng Văn Đông ví doanh nghiệp lớn như mỏ neo của hệ sinh thái. Lực kéo của doanh nghiệp lớn trước hết nằm ở việc định hình chuẩn mực và đặt hàng những bài toán cụ thể cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, startup. Thay vì để doanh nghiệp nhỏ tự dò đường, các tập đoàn đầu đàn có thể chủ động công bố tiêu chuẩn kỹ thuật, yêu cầu chất lượng và lộ trình nâng cấp để doanh nghiệp nội địa biết phải thay đổi ở đâu nếu muốn trở thành nhà cung ứng. Doanh nghiệp lớn cũng cần tạo không gian thử nghiệm để công nghệ mới của startup, viện nghiên cứu hay trường đại học được kiểm chứng trong thực tế. Quan trọng hơn, doanh nghiệp đầu đàn phải chấp nhận đầu tư dài hạn cho chuỗi cung ứng nội địa thay vì chỉ tìm giải pháp rẻ và nhanh từ bên ngoài.

Tuy vậy, rào cản lớn hiện nay, theo ông Đông là sự kết nối còn thiếu thực chất. Việt Nam có nhiều hiệp hội, câu lạc bộ và mạng lưới doanh nhân, nhưng không ít hoạt động vẫn dừng ở giao lưu, kết nối phong trào, chưa tạo được các quan hệ kinh tế có tính ràng buộc và chia sẻ lợi ích. Một khoảng cách khác là sự lệch pha về chuẩn mực quản trị giữa doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp nhỏ và vừa. Vì vậy, ông Đông cho rằng cần nâng năng lực quản trị cho đội ngũ lãnh đạo doanh nghiệp nhỏ, đồng thời tăng liên kết giữa nhà nước - nhà trường - doanh nghiệp. Trong mô hình này, nhà nước tạo thể chế, doanh nghiệp đưa ra bài toán của thị trường; còn viện, trường cung cấp tri thức, công nghệ và nguồn nhân lực.

Ở góc độ doanh nghiệp, ông Trần Thanh Tùng, người có hơn 17 năm kinh nghiệm khởi nghiệp, giảng dạy và cố vấn doanh nghiệp nhỏ và vừa, startup, cho rằng một hệ sinh thái hiệu quả cần ít nhất 5 yếu tố: niềm tin để bắt đầu, năng lực chuyên môn hóa để trao đổi, luật chơi và lợi ích để duy trì, doanh nghiệp đầu đàn tạo lực kéo, và tổ chức trung gian làm nhiệm vụ "khớp lệnh". Trong đó, điều doanh nghiệp Việt còn thiếu nhất là những câu chuyện thành công đủ sức tạo niềm tin cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia chuỗi.

Theo các chuyên gia, liên kết chỉ bền vững khi giá trị được phân bổ đủ hợp lý để các bên đều muốn tiếp tục tham gia. Không thể xây dựng một chuỗi lâu dài nếu doanh nghiệp mạnh giữ phần lớn giá trị, trong khi rủi ro và áp lực chi phí liên tục được đẩy xuống các mắt xích yếu hơn. Vì vậy, thước đo cuối cùng của hệ sinh thái không phải là số doanh nghiệp tham gia hay tổng giá trị giao dịch, mà là sau 3 - 5 năm, các doanh nghiệp trong chuỗi có mạnh hơn trước hay không.

Nếu doanh nghiệp đầu đàn cạnh tranh tốt hơn nhờ một mạng lưới nhà cung cấp trong nước ổn định; doanh nghiệp nhỏ và vừa từng bước đi vào những khâu có giá trị gia tăng cao hơn; startup có thị trường để thương mại hóa sáng tạo; tri thức và công nghệ được lan tỏa giữa doanh nghiệp với viện, trường, khi đó lực kéo của doanh nghiệp lớn mới thực sự biến thành lực nâng cho doanh nghiệp nhỏ. Khi sự trưởng thành của các doanh nghiệp vệ tinh quay trở lại củng cố sức cạnh tranh của doanh nghiệp đầu đàn, liên kết mới thoát khỏi quan hệ mua - bán đơn thuần để trở thành một hệ sinh thái kinh doanh đúng nghĩa.

Thước đo là bao nhiêu doanh nghiệp lớn mạnh sau liên kết

Việt Nam không thiếu các tổ chức trung gian như VCCI, Hội Doanh nhân trẻ Việt Nam hay nhiều mạng lưới hỗ trợ khởi nghiệp, cố vấn doanh nghiệp. Điểm tích cực là các tổ chức này đang chuyển dần từ việc mở rộng hội viên, tổ chức sự kiện sang kết nối trực tiếp doanh nghiệp nhỏ và vừa với doanh nghiệp lớn và chuỗi giá trị. Tuy nhiên, thước đo của một mạng lưới không nên là có bao nhiêu hội viên hay tổ chức được bao nhiêu sự kiện. Điều cần nhìn là có bao nhiêu giao dịch thực tế được chốt, bao nhiêu doanh nghiệp tìm được nhà cung cấp tốt hơn, bao nhiêu sản phẩm được cùng nghiên cứu phát triển và quan trọng nhất, bao nhiêu doanh nghiệp thực sự mạnh lên sau khi tham gia mạng lưới.

Ông Trần Thanh Tùng

Doanh nghiệp vẫn cạnh tranh ở những nơi cần tạo khác biệt, nhưng có thể cùng làm những việc mà hợp tác mang lại giá trị lớn hơn: mua nguyên liệu, dùng công nghệ, xây dựng tiêu chuẩn, logistics, đào tạo nhân lực, mở thị trường hoặc cùng thực hiện những đơn hàng mà một doanh nghiệp riêng lẻ không đủ sức đảm nhận.

TS Phùng Văn Đông, Giám đốc Viện Công nghệ châu Á tại Việt Nam

Trong bối cảnh khối doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm tới hơn 97% nền kinh tế, việc phá bỏ tư duy làm ăn manh mún để bước vào các mạng lưới liên kết đang trở thành điều kiện tiên quyết để tồn tại. Thực tế từ làng nước mắm Nam Ô tại Đà Nẵng cho thấy, sau giai đoạn khủng hoảng vì từng hộ tự sản xuất và tự tiêu thụ, sự hợp lực thông qua hội nghề nghiệp và hợp tác xã đã tạo nên bước ngoặt lớn. Đến đầu năm 2024, Hội Làng nghề nước mắm Nam Ô đã quy tụ 69 hội viên, đưa sản lượng đạt từ 200.000 đến 300.000 lít mỗi năm và giải quyết việc làm cho khoảng 220 lao động. Tại làng mộc Liên Hà ở Hà Nội, mô hình cộng hưởng năng lực lại được cụ thể hóa qua sự chuyên môn hóa sâu sắc giữa các công đoạn từ xẻ gỗ, sấy, gia công CNC đến hoàn thiện sản phẩm. Mỗi cơ sở duy trì tính độc lập mà không cần phải đầu tư toàn bộ dàn máy móc đắt đỏ, qua đó tối ưu chi phí vận hành và nâng cao sức cạnh tranh toàn cụm. Cách thức tổ chức này giúp hàng trăm xưởng gia đình gom góp thế mạnh riêng để tạo nên quy mô sản xuất mà một đơn vị đơn lẻ không thể đạt được. Nhận định về thực trạng này, Tiến sĩ Phùng Văn Đông, Giám đốc Viện Công nghệ châu Á tại Việt Nam, chỉ ra nghịch lý nhiều thợ giỏi vẫn giậm chân tại chỗ vì thiếu tư duy chuỗi cung ứng. Năng lực tay nghề xuất sắc không còn là tấm vé bảo đảm thành công nếu người sản xuất tiếp tục tự cô lập trong khuôn viên nhà xưởng của chính mình. Sự kết nối đồng bộ và định hình hệ sinh thái có vai trò dẫn dắt của các doanh nghiệp đầu kéo chính là lời giải cốt lõi cho bài toán phát triển bền vững.
amung