Cần phải thận trọng khi đưa ra kết luận khi chưa phân tích rõ số liệu. Quan trọng hơn việc có bao nhiêu doanh nghiệp đóng cửa là doanh nghiệp nào đang rời đi, vì sao họ rời đi và nguồn lực sau đó được tái phân bổ như thế nào.
Đó là chia sẻ của ông Trần Bằng Việt, Sáng lập kiêm Chủ tịch Jadeite Ventures, Tổng Giám đốc Đông A Solutions, khi trao đổi với Dân trí, trước con số gần 39.000 doanh nghiệp TPHCM rút lui khỏi thị trường trong 7 tháng đầu năm.
Nhiều người quan tâm đến con số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường trong 7 tháng. Nhưng nếu bóc tách sâu vào cấu trúc của sự rời đi này, ông nhìn thấy đây là dấu hiệu gì?
- Tôi cho rằng con số này giống một kết quả xét nghiệm hơn là một chẩn đoán. Khi bóc tách ra, câu chuyện sẽ khác khá nhiều.
Cụ thể, trong 38.804 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường, có 31.321 doanh nghiệp tạm ngừng và 7.483 doanh nghiệp hoàn tất giải thể. Như vậy, khoảng 81% số doanh nghiệp được tính là “rút lui” thực chất chưa phải những cái chết về mặt pháp lý.
Ở chiều ngược lại, cùng kỳ có 34.096 doanh nghiệp thành lập mới và 12.221 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động. Tổng cộng, hơn 46.000 doanh nghiệp gia nhập hoặc quay lại thị trường, cao hơn số rút lui khoảng 7.500 doanh nghiệp. Dòng vào vẫn lớn hơn dòng ra. Vì vậy, cũng không nên dễ dàng kết luận đây chỉ là một cuộc thanh lọc tự nhiên.
Ông Trần Bằng Việt (Ảnh: HT).
Trong gần 39.000 doanh nghiệp đó có ít nhất ba câu chuyện khác nhau đang bị gộp lại: doanh nghiệp thực sự bị thị trường đào thải, doanh nghiệp tạm “ngủ đông” để chờ tín hiệu tốt hơn và doanh nghiệp chủ động tái cấu trúc để thích nghi.
Có hai chi tiết đáng chú ý hơn con số tổng.
Thứ nhất, tốc độ tạm ngừng và giải thể đang rất khác nhau. Số doanh nghiệp tạm ngừng tăng khoảng 10,5%, trong khi số giải thể dứt điểm tăng gần 159%. Điều này cho thấy có thể đang tồn tại một nhóm doanh nghiệp cụ thể đi rất nhanh đến điểm kết thúc.
Thứ hai, số doanh nghiệp thành lập mới tăng gần 23% nhưng số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động lại giảm 2,87%. Điều đó cho thấy tinh thần kinh doanh chưa cạn, nhưng khả năng hồi phục của những doanh nghiệp đã tạm dừng cần được chú ý. Hơn 31.000 doanh nghiệp đang tạm ngừng hôm nay có thể là một nguồn lực có khả năng quay lại, nhưng cũng có thể dần trượt sang phía giải thể nếu khó khăn kéo dài.
Vì vậy, câu hỏi quan trọng không phải chỉ là bao nhiêu doanh nghiệp rời đi mà là ai đang rời đi và nguồn lực của họ chảy về đâu.
Nếu doanh nghiệp năng suất thấp rời thị trường, sau đó vốn, lao động và mặt bằng nhanh chóng được chuyển sang những doanh nghiệp hiệu quả hơn, đó là quá trình thanh lọc lành mạnh. Nhưng nếu một doanh nghiệp có sản phẩm tốt, có khách hàng, vẫn phải đóng cửa chỉ vì đứt dòng tiền hoặc môi trường kinh doanh quá bất định thì nền kinh tế đang mất đi năng lực sản xuất thực sự.
Dữ liệu công bố hiện nay chưa cho phép phân biệt rõ hai trường hợp này. Vì vậy, theo tôi, một việc Thành phố có thể làm ngay là công bố sâu hơn số doanh nghiệp rút lui theo quy mô lao động, ngành nghề và thời gian tồn tại. Không có những lát cắt đó, rất khó thiết kế chính sách hỗ trợ đúng đối tượng.
Nếu không thể chỉ quy vấn đề về thiếu vốn hay thiếu sức cầu, theo ông, điểm nghẽn cốt lõi mà doanh nghiệp TPHCM đang đối mặt hiện nay là gì?
- Nếu phải chọn một, tôi không chọn vốn. Bảy tháng đầu năm, dư nợ tín dụng TPHCM tăng 18,42%, cao hơn tốc độ huy động 16,07%. Sức cầu cũng không phải không có, khi bán lẻ tăng 13,3%, du lịch tăng 55,3%, FDI tăng 144%.
Một chỉ báo đáng chú ý là GRDP TPHCM tăng 12,94% theo giá hiện hành nhưng chỉ tăng 8,55% theo giá so sánh. Có thể hiểu đơn giản rằng doanh thu và quy mô hoạt động có thể vẫn tăng, nhưng một phần đáng kể của mức tăng đó bị chi phí hấp thụ.
Với người điều hành doanh nghiệp, đây là một trạng thái rất khó: doanh thu vẫn tăng, đơn hàng vẫn còn nhưng biên lợi nhuận ngày càng mỏng.
Vấn đề là trạng thái này không phát ra tín hiệu cảnh báo rõ ràng. Doanh nghiệp vẫn nhìn thấy doanh thu, vẫn nghĩ mình đang phát triển, nhưng tiền mặt có thể ngày càng căng. Một doanh nghiệp hoàn toàn có thể có lãi trên sổ sách nhưng cuối cùng vẫn phải đóng cửa vì dòng tiền bị đứt.
Tuy nhiên, sâu hơn vấn đề chi phí là chi phí của sự bất định. Doanh nghiệp có thể chấp nhận một mức lãi suất cao nếu họ biết trong ba năm tới lãi suất nằm trong khoảng nào. Họ cũng có thể đầu tư để đáp ứng một tiêu chuẩn khó nếu tiêu chuẩn đó ổn định. Điều khiến doanh nghiệp khó ra quyết định là không biết sáu tháng nữa thị trường xuất khẩu sẽ như thế nào, quy định thuế được hiểu ra sao hay một thủ tục đất đai sẽ mất bao lâu.
Khi mức độ bất định quá cao, phản ứng hợp lý của doanh nghiệp là trì hoãn đầu tư, giữ tiền mặt và hạn chế những cam kết dài hạn. Nhưng nếu doanh nghiệp nào cũng làm như vậy, nền kinh tế sẽ mất đi động lực đầu tư cần thiết cho tăng trưởng.
Một điểm nghẽn khác ngày càng rõ trong năm 2026 là khả năng chứng minh. Các yêu cầu về xuất xứ, nhà cung cấp, lao động, phát thải và truy xuất ngày càng trở thành điều kiện để doanh nghiệp tham gia thị trường.
Nhiều cửa hàng đóng cửa trên các tuyến phố chính (Ảnh: DT).
Đối với doanh nghiệp lớn, việc xây dựng hệ thống để chứng minh những tiêu chuẩn này là một khoản chi phí có thể hấp thụ được. Nhưng với doanh nghiệp nhỏ, đó có thể trở thành một chi phí cố định rất lớn.
Nếu gói lại trong một câu, tôi cho rằng nhiều doanh nghiệp ở TPHCM lúc này không đơn thuần thiếu vốn hay thiếu khách hàng. Họ thiếu biên lợi nhuận, thiếu khả năng dự báo và thiếu khả năng chứng minh.
Trong bối cảnh nguồn lực của Thành phố có hạn, theo ông, chính quyền nên xác định doanh nghiệp nào cần hỗ trợ và hỗ trợ như thế nào?
- Tôi muốn đổi cách đặt vấn đề một chút, nhà nước không nên đặt mục tiêu “cứu doanh nghiệp” mà nên bảo vệ những năng lực sản xuất còn khả năng sống.
Muốn làm được điều đó phải phân biệt rất rõ doanh nghiệp đang khó khăn vì một cú sốc tạm thời với doanh nghiệp mà mô hình kinh doanh đã thực sự mất khả năng cạnh tranh.
Theo tôi, trước hết phải xem doanh nghiệp đó đã từng thực sự sống được bằng thị trường hay chưa: trước khi gặp cú sốc, họ có sản phẩm, có khách hàng, có năng suất và khả năng cạnh tranh hay không. Tiếp theo là khả năng phục hồi. Doanh nghiệp đang khó vì một vấn đề có tính thời điểm hay vấn đề nằm ngay trong bản thân mô hình kinh doanh?
Cuối cùng là hiệu quả của việc hỗ trợ. Chủ doanh nghiệp có sẵn sàng tái cấu trúc, có vốn đối ứng, có kế hoạch thay đổi sản phẩm hoặc thị trường hay không? Nếu không hỗ trợ mà doanh nghiệp vẫn sống được thì không cần hỗ trợ. Ngược lại, nếu hỗ trợ bao nhiêu cũng không thể khôi phục khả năng cạnh tranh thì cũng không nên tiếp tục đổ nguồn lực vào đó.
Từ những tiêu chí này, có thể chia doanh nghiệp thành ba nhóm.
Nhóm thứ nhất là doanh nghiệp tốt nhưng gặp cú sốc thanh khoản. Họ cần một cây cầu để vượt qua giai đoạn khó khăn.
Nhóm thứ hai là doanh nghiệp còn tiềm năng nhưng phải thay đổi mô hình. Với nhóm này, hỗ trợ nên có điều kiện và gắn với một chương trình tái cấu trúc cụ thể.
Nhóm thứ ba là doanh nghiệp đã không còn khả năng cạnh tranh. Không nên dùng nguồn lực xã hội để kéo dài sự tồn tại của họ. Khi đó, điều cần hỗ trợ là quá trình rời thị trường, người lao động, chủ nợ và quá trình tái phân bổ tài sản.
Tôi đặc biệt cho rằng nên chú ý đến nhóm hơn 31.000 doanh nghiệp đang tạm ngừng nhưng chưa giải thể. Đây là nhóm còn pháp nhân, còn khả năng quay trở lại thị trường và chi phí để giúp một doanh nghiệp đang tạm ngừng phục hồi có thể thấp hơn rất nhiều so với việc hình thành lại một năng lực sản xuất đã biến mất.
Việc thẩm định cũng nên dựa nhiều hơn vào dữ liệu doanh nghiệp đã có, chẳng hạn dữ liệu hóa đơn điện tử, thay vì tạo thêm các bộ hồ sơ xin hỗ trợ phức tạp. Bởi những doanh nghiệp yếu nhất thường cũng là những doanh nghiệp có ít nguồn lực nhất để thực hiện thủ tục.
Và có một nguyên tắc mà tôi cho là rất quan trọng: doanh nghiệp có thể không cứu được, nhưng con người trong doanh nghiệp luôn đáng được hỗ trợ. Nếu nguồn lực hữu hạn, một phần đáng kể nên được dành cho đào tạo lại người lao động và tạo cơ hội làm lại cho những người kinh doanh thất bại một cách trung thực, thay vì dồn tất cả nguồn lực vào việc giữ cho một pháp nhân tiếp tục tồn tại.
Nếu được đề xuất một quyết sách mang tính đột phá cho TPHCM, không chỉ giúp doanh nghiệp vượt qua khó khăn hiện tại mà còn tạo ra một thế hệ doanh nghiệp có sức chống chịu tốt hơn trong tương lai, ông sẽ ưu tiên điều gì?
- Tôi sẽ không đề xuất thêm một gói tín dụng hay một chương trình hỗ trợ riêng lẻ. Tôi muốn TPHCM xây dựng một “hệ điều hành” mới cho doanh nghiệp, với một tham vọng rõ ràng: biến TPHCM thành một trong những nơi dễ nhất Việt Nam để một doanh nghiệp tốt được sinh ra, lớn lên, chuyển đổi và, nếu cần, rời khỏi thị trường.
Có ba bài toán phải được giải đồng thời: ENTRY - SCALE - EXIT.
ENTRY là vào thị trường. Thành phố đã có bước tiến khi 2.065 thủ tục hành chính được giải quyết không phụ thuộc địa giới. Tuy nhiên, năng lực xử lý vẫn chưa đồng đều. Bình quân một cán bộ phục vụ khoảng 753 người dân, cao hơn khoảng một lần rưỡi bình quân cả nước. Thủ tục có thể đã liên thông nhưng năng lực thực thi vẫn cần được tiếp tục cải thiện.
SCALE là khả năng lớn lên. Theo tôi, đây mới là điểm yếu lớn nhất. Việt Nam không thiếu doanh nghiệp nhỏ. Điều còn thiếu là những doanh nghiệp có thể đi từ nhỏ lên vừa, từ vừa lên lớn và cuối cùng trở thành doanh nghiệp dẫn dắt chuỗi giá trị.
Nếu phải chọn một hạng mục để làm trước, tôi sẽ chọn hạ tầng chứng minh dùng chung.
Ngày càng nhiều yêu cầu của thị trường cùng xoay quanh một câu hỏi: hãy chứng minh sản phẩm này được làm ra như thế nào.
Một tập đoàn lớn có thể tự xây dựng hệ thống truy xuất, quy trình kiểm toán lao động hay hồ sơ nhà cung cấp. Nhưng một doanh nghiệp 30 người rất khó làm điều tương tự, không hẳn vì họ làm sai mà vì đây là một khoản chi phí cố định quá lớn.
Vì vậy, có thể xem đây như một dạng hạ tầng dùng chung: Thành phố tổ chức một nền tảng chuẩn hóa dữ liệu về xuất xứ, nhà cung cấp, lao động, phát thải, kết nối với các hệ thống dữ liệu đã có, đồng thời có cơ chế chia sẻ chi phí dịch vụ tư vấn và chứng nhận.
Một hệ thống như vậy có ưu điểm là giá trị được tích lũy theo thời gian. Dữ liệu càng đầy đủ, chi phí chứng minh của cả cộng đồng doanh nghiệp càng giảm. Khi nhiều doanh nghiệp cùng đáp ứng được yêu cầu, mặt bằng năng lực cạnh tranh của cả nền kinh tế cũng được nâng lên.
Đại hội Hội Doanh nhân Trẻ TPHCM nhiệm kỳ I (2026-2029) đặt ra mục tiêu hỗ trợ doanh nghiệp thực chất, có con số rõ ràng, cụ thể (Ảnh: YBA).
Cuối cùng là EXIT - rời khỏi thị trường và tái phân bổ nguồn lực. Một nền kinh tế khỏe mạnh không chỉ cần cửa vào thuận lợi mà cũng cần một cửa ra thông suốt: thủ tục rời thị trường nhanh hơn, tài sản được tái sử dụng nhanh hơn, người lao động được đào tạo lại và người kinh doanh thất bại một cách trung thực có cơ hội thứ hai.
Với không gian TPHCM mới, dư địa để xây dựng hệ sinh thái này càng lớn khi có thể kết nối tài chính, dịch vụ, công nghệ và nguồn nhân lực của khu vực lõi với năng lực công nghiệp, cảng biển, logistics và quỹ đất của Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu cũ.
Vì vậy mục tiêu của TPHCM không nên là làm cho ít doanh nghiệp "chết" hơn mà phải là: doanh nghiệp tốt lớn nhanh hơn, doanh nghiệp gặp khó nhưng còn sức cạnh tranh phục hồi nhanh hơn, doanh nghiệp yếu chuyển đổi sớm hơn, doanh nghiệp hết khả năng cạnh tranh rời đi ít đau đớn hơn, và nguồn lực được tái sử dụng nhanh hơn.
Khi đó cách chúng ta nhìn con số gần 39.000 cũng sẽ khác. Đừng chỉ đếm bao nhiêu doanh nghiệp rời thị trường, hãy nhìn nguồn lực đang chảy về đâu, và những doanh nghiệp nào đang sinh ra để thay thế họ. Bởi sức khỏe của một nền kinh tế không đo bằng số doanh nghiệp không bao giờ chết, mà bằng khả năng liên tục tái tạo ra những doanh nghiệp tốt hơn.
Số liệu dẫn trong bài lấy từ báo cáo tại phiên họp kinh tế xã hội của UBND TPHCM ngày 12/8/2026 và công bố của Thống kê TPHCM (số ước tính, chưa quyết toán); Báo cáo sơ kết 01 năm chính quyền địa phương hai cấp của UBND TPHCM; công bố của USTR ngày 24/7.