Cục dự trữ liên bang Mỹ (Fed) tăng lãi suất thêm 0,25 điểm phần trăm lên 3,75 - 4% hôm 16/9. Chủ tịch Fed Kevin Warsh cho biết quyết định này nhằm "rút bớt một phần mức độ nới lỏng" và đưa lạm phát trở lại mục tiêu 2% nhanh hơn. Các thành viên Ủy ban Thị trường Mở Liên bang (FOMC) dự báo trung vị lãi suất cuối năm ở 4,1%, cao hơn mức hiện tại, hàm ý có thể còn một đợt tăng trong năm nay.
Động thái này theo ông Huỳnh Duy Sang, Giám đốc Khối thị trường tài chính Ngân hàng Á Châu (ACB), về lý thuyết, sẽ tạo thêm áp lực lên tỷ giá USD/VND, đồng thời khiến dư địa nới lỏng chính sách tiền tệ, hạ lãi suất của Việt Nam bị thu hẹp.
Tuy nhiên, theo quan điểm của chuyên gia ACB, đợt tăng lãi suất chưa cho thấy Fed bước vào chu kỳ thắt chặt mà thiên về phản ứng ngắn hạn trước áp lực lạm phát. Nếu Fed chỉ nâng lãi suất để quan sát và có thể quay lại giảm khi áp lực giá hạ nhiệt, tác động với Việt Nam sẽ khác so với chu kỳ thắt chặt.
Bên cạnh chính sách của Fed, diễn biến USD/VND theo ông Sang phụ thuộc nhiều vào cung cầu ngoại tệ trong nước như cán cân thương mại, dòng vốn FDI, kiều hối hay các khoản vay từ nước ngoài - vốn đang được đánh giá tích cực.
Từ đầu năm, tỷ giá ổn định, thậm chí có những giai đoạn tiền đồng mạnh lên. Đầu tháng 9, giá USD tại ngân hàng thấp hơn khoảng 1% so với đầu năm. Hiện mỗi USD bán ra khoảng 26.200 đồng, tăng nhẹ so với đầu tháng nhưng vẫn thấp hơn 0,5% so với đầu năm.
"Cung cầu USD trên thị trường Việt Nam tốt và lạc quan hơn những gì chúng tôi từng dự báo từ đầu năm. Với các yếu tố này, tỷ giá vẫn sẽ tương đối ổn định. Tiền đồng năm nay mất giá ở mức độ 1-2% là hợp lý", ông Sang dự báo.
Còn theo dự báo của UOB, tỷ giá USD/VND ở mức khoảng 26.200 đồng trong quý IV/2026 sau đó sẽ giảm về 26.100 trong quý I năm sau, 26.000 trong quý II và 25.900 trong quý III/2027.
Nếu chỉ nhìn vào mức nhập siêu hơn 20 tỷ USD trong 7 tháng đầu năm, đây có thể là yếu tố bất lợi với tỷ giá. Tuy nhiên, ông Đinh Đức Quang, Giám đốc Khối Kinh doanh tiền tệ UOB Việt Nam, cho rằng cơ cấu nhập khẩu cho thấy bức tranh ít đáng lo. Phần lớn nhập khẩu tăng đến từ máy móc, thiết bị và vật liệu phục vụ sản xuất, đầu tư hạ tầng. Các dự án đầu tư công lớn như sân bay Long Thành hay hoạt động mở rộng nhà xưởng của doanh nghiệp đều kéo theo nhu cầu nhập thiết bị.
"Điểm quan trọng là Việt Nam không nhập khẩu chủ yếu hàng tiêu dùng xa xỉ", ông Quang nói. Theo ông, máy móc và thiết bị nhập khẩu sẽ được đưa vào chuỗi sản xuất, tạo ra sản phẩm và giá trị trong những giai đoạn tiếp theo.
Ông Huỳnh Duy Sang cũng cho rằng lượng nguyên liệu, linh kiện, máy tính và thiết bị nhập khẩu hiện nay có thể chuyển hóa thành hàng xuất khẩu trong các quý tới. Nếu nhu cầu tại những thị trường lớn, trong đó có Mỹ, được duy trì, xuất khẩu có thể tăng trở lại trong hai quý cuối năm. Khi đó, nguồn ngoại tệ từ xuất khẩu quay về sẽ giúp cán cân thương mại cải thiện và giảm áp lực lên tỷ giá USD/VND.
Ngoài thương mại, các nguồn ngoại tệ khác vẫn được đánh giá sẽ hỗ trợ cho tỷ giá. Theo chuyên gia của ACB, dòng vốn FDI giải ngân tiếp tục tăng trong khi vốn đăng ký cao tạo nền tảng cho dòng vốn thực hiện thời gian tới. Các ngân hàng và định chế tài chính trong nước cũng tăng vay, huy động vốn từ nước ngoài, bổ sung thêm nguồn USD. Bên cạnh đó, cuối năm cũng thường là giai đoạn kiều hối tăng, góp phần cân bằng cung cầu ngoại tệ.
Diễn biến trên thị trường tự do cũng cho thấy áp lực nắm giữ USD đã hạ nhiệt. Tỷ giá USD tự do từ đầu năm đến nay thu hẹp chênh lệch với thị trường chính thức và thậm chí hiện giao dịch thấp hơn ngân hàng. Động cơ đầu cơ USD theo đó giảm và dòng tiền theo chuyên gia có xu hướng trở lại hệ thống ngân hàng.
Bên cạnh nguồn cung ngoại tệ, mặt bằng lãi suất tiền đồng là "bộ đệm" khác với tỷ giá.
Theo ông Đinh Đức Quang, cơ quan điều hành đã có sự chuẩn bị từ trước cho những sức ép năm nay, từ nhu cầu nhập khẩu máy móc lớn khi đầu tư công tăng tốc đến khả năng Fed nâng lãi suất.
Một trong những công cụ quan trọng là lãi suất tiền đồng, vốn đã tăng mạnh từ quý IV năm ngoái. Chênh lệch giữa lãi suất tiền đồng và USD theo ông vẫn đủ hấp dẫn để giảm động cơ nắm giữ hoặc đầu cơ ngoại tệ của nhà đầu tư cá nhân.
Ngay cả trong kịch bản Fed tăng lãi suất tổng cộng khoảng 75 điểm cơ bản qua ba lần (nếu có), ông Quang cho rằng mức điều chỉnh này chưa đủ lớn để làm thay đổi đáng kể khẩu vị đầu tư hay xu hướng nắm giữ tiền đồng.
Giám đốc Khối thị trường tài chính ACB cũng cho rằng việc Fed nâng lãi suất không truyền dẫn trực tiếp sang mặt bằng lãi suất Việt Nam. Theo ông, điều quan trọng là duy trì chênh lệch hợp lý giữa lãi suất VND và USD để bù đắp rủi ro tỷ giá. Mặt bằng hiện nay vẫn đủ sức thu hút một phần dòng tiền trước đây lưu thông bên ngoài hoặc được nắm giữ dưới dạng USD quay về tiền đồng.
Theo các chuyên gia, lần tăng lãi suất này của Fed khiến điều hành chính sách tiền tệ kém thuận lợi hơn nhưng chưa đủ tạo cú sốc lên USD/VND. Áp lực sẽ lớn hơn nếu Fed thực sự bước vào một chu kỳ nâng lãi suất kéo dài, buộc Việt Nam phải duy trì chênh lệch lãi suất VND - USD ở mức hợp lý trong khi vẫn cần mặt bằng chi phí vốn phù hợp để hỗ trợ tăng trưởng.
Quỳnh Trang