Vì thế, cần có quy định hợp lý để bảo vệ thị trường nhưng vẫn đáp ứng được nhu cầu có thật từ người tiêu dùng.
Đầu tiên vẫn phải khẳng định nỗi lo VN trở thành "bãi đáp" công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm từ các nước phát triển không phải là không có cơ sở. Báo cáo của Tổng cục Thống kê giai đoạn 2016 - 2020 từng mô tả nhiều doanh nghiệp trong nước sử dụng công nghệ lạc hậu đến 2 - 3 thế hệ. Thậm chí, trong đó có tỷ lệ không nhỏ thiết bị đã hết khấu hao hoặc đồ tân trang. Mà hệ quả của một dây chuyền lạc hậu có thể khiến cả nhà máy tiêu hao năng lượng lớn, phát thải cao và kéo năng suất của ngành xuống. Trong bối cảnh VN đang quyết liệt chuyển đổi xanh, cam kết giảm phát thải ròng về 0 vào năm 2050 thì siết nhập khẩu máy móc, thiết bị công nghệ cũ nói chung là điều cần thiết.
Tuy nhiên, "siết" không có nghĩa là cấm hẳn, nhất là với điện thoại thông minh, máy tính xách tay, máy tính để bàn, máy ảnh kỹ thuật số, máy quay phim, màn hình, máy chiếu, loa, tai nghe... Khái niệm "đã qua sử dụng" của những sản phẩm này không thể và không nên đánh đồng với hàng thải loại. Thậm chí, ngay cả thời gian sử dụng trong nhiều trường hợp cũng không phải là thước đo chính xác. Chúng ta đều biết ở các nước phát triển, đặc biệt là với các "tín đồ" công nghệ thì việc "lên đời" điện thoại, máy tính... theo chu kỳ 1 - 2 năm, khi thiết bị vẫn hoạt động tốt, thậm chí còn mới, là chuyện bình thường.
Vì thế, nếu chặn đứng nguồn nhập khẩu, chúng ta đã vô tình loại bỏ một nguồn lực công nghệ có giá trị trong khi nhu cầu ở thị trường nội địa là có thực, thậm chí rất lớn. Cũng phải nói thêm, trong kỷ nguyên số hiện nay, điện thoại thông minh, máy tính bảng, laptop... đã trở thành hàng thiết yếu, là công cụ học tập, thậm chí mưu sinh không thể thiếu của nhiều người. Trong khi đó, thu nhập của một bộ phận người dân, học sinh, sinh viên, người lao động ở vùng sâu vùng xa vẫn còn khoảng cách lớn so với giá trị của một thiết bị mới 100%.
Nếu cắt nguồn cung nhập khẩu, chỉ còn máy cũ trong nước, giá máy cũ có thể tăng, rõ ràng người tiêu dùng thu nhập thấp sẽ bị thiệt thòi đầu tiên. Vì vậy, nếu mục tiêu là không biến VN thành bãi rác điện tử, thay vì đóng cửa hoàn toàn, chính sách quản lý có thể đi theo hướng kiểm soát chặt chẽ các tiêu chí kỹ thuật thay vì đánh đồng mọi hàng cũ là "rác". Ví dụ, đưa ra các tiêu chí cụ thể về tuổi thiết bị, tình trạng hoạt động, pin và mức độ sửa chữa. Với doanh nghiệp nhập khẩu, bắt buộc phải có chứng từ nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, kiểm định chất lượng nghiêm ngặt và cơ chế bảo hành tối thiểu. Bên cạnh đó, các đơn vị nhập khẩu cũng phải chịu trách nhiệm thu hồi, xử lý hoặc tái xuất đối với những lô hàng không đạt chuẩn, thay vì để lọt ra thị trường nội địa. Làm như vậy, chúng ta vẫn hạn chế được hàng thải loại mà không đóng cửa với nguồn thiết bị giá phải chăng.
Còn cấm tiệt nhập khẩu điện thoại, máy tính cũ thì tiện cho quản lý nhưng như nói trên, lại tạo ra sự thiệt thòi lớn cho người tiêu dùng thu nhập thấp.
Phân định rõ ranh giới giữa hàng thải loại gây ô nhiễm và hàng đã qua sử dụng nhưng còn giá trị sử dụng cao, hay nói cách khác, mở có điều kiện và kiểm soát chặt chẽ sẽ giúp chính sách thực sự đi vào cuộc sống một cách thấu tình đạt lý. Qua đó vừa bảo vệ được thị trường trong nước vừa không bỏ lại những người có thu nhập thấp phía sau trong kỷ nguyên số.