Bỏ qua điều hướng
•

Hun đúc sức mạnh đại đoàn kết vì khát vọng chung

Hun đúc sức mạnh đại đoàn kết vì khát vọng chung
Nguồn ảnh: Nhân Dân

Thực tế minh chứng, đại đoàn kết không thể chỉ được thể hiện bằng khẩu hiệu mà phải được cụ thể hóa bằng cơ chế tham gia, đối thoại, phản biện, ghi nhận và sử dụng thực chất những đóng góp của kiều bào. Đó là khẳng định của TS Trần Hải Linh, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chủ t...

Đại đoàn kết dân tộc là nền tảng xuyên suốt

- Là một Việt kiều nhiều năm sinh sống tại Hàn Quốc, cũng là người có những đóng góp rất tích cực trong việc gắn kết nhân sĩ, trí thức và bà con người Việt tại Hàn Quốc hướng về quê hương, ông có nhận định gì về tinh thần mà Đảng và Nhà nước đã gửi gắm trong Nghị quyết số 23-NQ/TW (NQ23) thay thế Nghị quyết số 36-NQ/TW (NQ36)?

- Đây có thể được coi là một bước phát triển mới về chất, phù hợp vị thế, tiềm lực của đất nước và sự trưởng thành của cộng đồng người Việt Nam đang sinh sống tại hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ. Điểm đáng chú ý là NQ23 không chỉ tổng kết những chuyển biến sau 22 năm thực hiện NQ36, mà còn đặt công tác người Việt Nam ở nước ngoài trong một không gian phát triển hoàn toàn mới.

Thực tế, Việt Nam hôm nay có độ mở kinh tế lớn, hội nhập quốc tế sâu rộng, vị thế quốc gia được nâng cao; đồng thời khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, kinh tế xanh, kinh tế tri thức và cạnh tranh nguồn nhân lực chất lượng cao đang làm thay đổi căn bản cấu trúc phát triển của các quốc gia. Trong bối cảnh ấy, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài không thể chỉ được nhìn nhận chủ yếu dưới góc độ một cộng đồng cần được vận động, hỗ trợ hay kết nối với quê hương, mà ở vị thế là “một bộ phận không tách rời của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là một trong những nguồn lực chiến lược quan trọng góp phần nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia, là cầu nối giữa Việt Nam với thế giới”, và là “lực lượng đồng hành, tham gia trực tiếp vào sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc”.

Theo tôi, đây là sự chuyển dịch tư duy quan trọng: từ “hướng về kiều bào” sang “cùng kiều bào phát triển đất nước”; từ “thu hút đóng góp” sang “kiến tạo cơ chế để nguồn lực kiều bào được phát huy”; từ quan hệ một chiều sang quan hệ đồng hành, tương tác và cùng tạo ra giá trị trên tinh thần đại đoàn kết xuyên suốt.

- Vậy phải chăng với những nội dung cốt lõi, với sự chuyển dịch tích cực về tư duy, NQ23 đã vượt hơn một văn kiện chính trị đơn thuần, thưa ông?

- Đúng vậy! Nội dung có ý nghĩa đặc biệt trong NQ23 là tiếp tục khẳng định: Người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận đặc biệt trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, xuất thân hay địa vị xã hội. Đồng thời, nhấn mạnh những điểm tương đồng và mục tiêu chung: Ý thức dân tộc, lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc, khát vọng phát triển, chung sức xây dựng một Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc. Đây không chỉ là một quan điểm chính trị-xã hội, một văn kiện chính trị đơn thuần, mà là một phương pháp tiếp cận mang tính định hướng có ý nghĩa thực tiễn rất sâu sắc.

Nghị quyết đã thể hiện rõ tinh thần thông điệp của Đảng, Nhà nước mong muốn bày tỏ về sự trân trọng, cầu thị, lắng nghe mọi ý kiến đóng góp xây dựng; đề cao tinh thần hòa hợp dân tộc, xóa bỏ định kiến, gác lại quá khứ, hướng tới tương lai. Đây là thông điệp có sức nặng rất lớn.

Từ thực tiễn nhiều năm hoạt động trong cộng đồng người Việt Nam tại Hàn Quốc, tôi nhận thấy khi đồng bào cảm nhận được sự tin cậy, tôn trọng và bình đẳng trong đóng góp, tinh thần hướng về quê hương được khơi dậy rất tự nhiên. Sức mạnh của cộng đồng không chỉ nằm ở số lượng hay tiềm lực tài chính, mà nằm ở niềm tin và khả năng cùng hành động vì một mục tiêu chung.

tr67.jpg
Các đại biểu tiêu biểu đại diện cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài về dự Hội nghị người Việt Nam ở nước ngoài toàn thế giới lần thứ tư và Diễn đàn Tri thức và chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài năm 2026. Ảnh: Kiều Hoa

Xây dựng trách nhiệm và hành động vì khát vọng chung của toàn dân tộc

- Trong NQ23, Đảng và Nhà nước đã đặt ra mục tiêu và những cam kết rất cụ thể trong việc hoàn thiện cơ chế, chính sách đồng bộ, đột phá, tạo môi trường thông thoáng, thuận lợi để đồng bào ở xa Tổ quốc hướng về quê hương. Theo ông, như vậy liệu đã đủ để kết nối, thu hút và phát huy hiệu quả nguồn lực, trí tuệ của người Việt Nam ở nước ngoài đồng hành, trực tiếp tham gia dựng xây đất nước?

- Đây là một định hướng rất đúng và trúng! Những năm qua, chúng ta thường nói nhiều về tiềm năng của kiều bào: nguồn vốn, tri thức, mạng lưới quan hệ, công nghệ, kinh nghiệm quản trị, khả năng tiếp cận thị trường quốc tế. Nhưng khoảng cách giữa “tiềm năng” và “nguồn lực thực tế” phụ thuộc chủ yếu vào thể chế. Một chuyên gia giỏi có thể muốn đóng góp, nhưng nếu quy trình hợp tác phức tạp, thiếu đầu mối, thiếu cơ chế đánh giá và sử dụng chuyên môn thì sự nhiệt tình khó chuyển hóa thành kết quả. Một doanh nhân có thể muốn đầu tư, nhưng nếu thủ tục, thông tin dự án, cơ chế bảo vệ quyền lợi và khả năng phối hợp thiếu minh bạch, cơ hội có thể bị bỏ lỡ.

Với NQ23, Đảng và Nhà nước đã đặt ra yêu cầu rất rõ về việc rà soát, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện chính sách, pháp luật liên quan người Việt Nam ở nước ngoài theo hướng đồng bộ, minh bạch, ổn định, kiến tạo, phục vụ; có chính sách đột phá để thu hút, kết nối và phát huy hiệu quả nguồn lực, nhất là chuyên gia, trí thức, nhà khoa học, doanh nhân, văn nghệ sĩ và thế hệ trẻ. Đồng thời, Nghị quyết đề cập trực tiếp các vấn đề thiết thực như quốc tịch, nhà ở, đầu tư, thủ tục hành chính, chuyển đổi số và chất lượng dịch vụ công.

Tôi đánh giá cao yêu cầu tạo thuận lợi để người Việt Nam ở nước ngoài tham gia đời sống chính trị-kinh tế-xã hội của đất nước, đóng góp ý kiến xây dựng chủ trương, đường lối, chính sách và tham gia các chương trình, dự án phát triển kinh tế-xã hội, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đây là bước tiến từ việc coi kiều bào là “đối tượng của chính sách” sang tạo điều kiện để kiều bào trở thành “chủ thể tham gia phát triển”.

Tuy nhiên, theo tôi, vẫn cần tiến thêm một bước cụ thể nữa. Đó là cần thật sự chuyển hóa từ cơ chế “mời gọi chung” sang cơ chế “đặt hàng cụ thể”. Các bộ, ngành, địa phương cần xác định những bài toán phát triển cụ thể và công bố nhu cầu về công nghệ, chuyên gia, thị trường, vốn, quản trị, đào tạo nhân lực. Khi đó, mạng lưới chuyên gia và doanh nhân Việt Nam toàn cầu có thể tham gia theo dự án, theo sản phẩm và theo kết quả đo lường được.

- Ông có thể chia sẻ cụ thể hơn về vấn đề này, thưa ông?

- Trước đây, đóng góp của người Việt Nam ở nước ngoài thường được nhận diện qua kiều hối và đầu tư. Những nguồn lực đó vẫn rất quan trọng. Tuy nhiên, trong kỷ nguyên kinh tế tri thức, tài sản có giá trị ngày càng lớn là tri thức, công nghệ, dữ liệu, tiêu chuẩn quốc tế, mạng lưới chuyên môn, khả năng tổ chức đổi mới sáng tạo và năng lực kết nối chuỗi giá trị toàn cầu.

Chúng ta có thể gọi đó là “kiều hối tri thức”. Khác với dòng tiền, kiều hối tri thức có khả năng tạo hiệu ứng cấp số nhân: Một chuyên gia có thể đào tạo hàng trăm kỹ sư; một nhóm nhà khoa học có thể hình thành một phòng thí nghiệm hoặc chương trình nghiên cứu; một doanh nhân công nghệ có thể mở đường cho doanh nghiệp Việt Nam bước vào chuỗi cung ứng quốc tế; một trí thức trẻ có thể kết nối một trường đại học Việt Nam với mạng lưới nghiên cứu hàng đầu thế giới...

Đây là một loại “hạ tầng” đặc biệt quan trọng. Chúng ta cần tiến tới một bản đồ nguồn lực người Việt Nam toàn cầu theo lĩnh vực chuyên môn, địa bàn, khả năng hợp tác và nhu cầu kết nối. Dữ liệu phải phục vụ hành động chứ không chỉ phục vụ thống kê. Chẳng hạn, với ngành bán dẫn, có thể hình thành mạng lưới chuyên gia thiết kế chip, đóng gói-kiểm thử, vật liệu, thiết bị và đào tạo; với công nghệ sinh học có thể kết nối nghiên cứu, thương mại hóa, tiêu chuẩn và thị trường; với chuyển đổi số có thể kết nối doanh nghiệp công nghệ Việt Nam với các tập đoàn, quỹ đầu tư và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc tế.

Tôi tin rằng, khi đất nước trân trọng và kỳ vọng vào đồng bào ở xa Tổ quốc; lắng nghe, bảo vệ và tạo điều kiện cho đồng bào, thì cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài sẽ dốc sức đồng lòng phát huy trách nhiệm, năng lực và vị thế của mình để cùng chung tay xây dựng đất nước Việt Nam ta.

- Trân trọng cảm ơn ông!

Thực tế, NQ 23 đã xác định khá toàn diện bảy nhóm nhiệm vụ, giải pháp, từ đổi mới tư duy, hoàn thiện chính sách, xây dựng cộng đồng, phát huy nguồn lực… Vấn đề quyết định chỉ còn đặt lên vai khâu tổ chức thực hiện. Niềm tin chỉ được hình thành từ những trải nghiệm cụ thể, từ đó xây dựng trách nhiệm và hành động vì khát vọng chung của toàn dân tộc.

Khánh Lan (thực hiện)

Nghị quyết số 23-NQ/TW đánh dấu bước phát triển mới về chất trong tư duy chiến lược của Đảng và Nhà nước đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Việc thay thế Nghị quyết số 36-NQ/TW đã đặt hơn 6 triệu kiều bào sinh sống tại hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ vào vị trí nguồn lực chiến lược quan trọng của đất nước. Đây là sự chuyển dịch căn bản từ quan điểm thu hút đóng góp sang kiến tạo cơ chế để kiều bào cùng phát triển và tham gia trực tiếp vào sự nghiệp xây dựng Tổ quốc. Theo Tiến sĩ Trần Hải Linh, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, văn kiện mới vượt lên trên một định hướng chính trị đơn thuần nhờ phương pháp tiếp cận thực tiễn sâu sắc. Nghị quyết khẳng định khối đại đoàn kết toàn dân tộc không phân biệt xuất thân hay địa vị xã hội, lấy mục tiêu chung là một Việt Nam phồn vinh và hạnh phúc làm điểm tương đồng. Tinh thần chủ đạo là xóa bỏ định kiến, gác lại quá khứ và hướng tới tương lai để phát huy tối đa tiềm lực của cộng đồng người Việt toàn cầu. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và cuộc cách mạng kinh tế tri thức, vai trò của kiều bào ngày càng trở nên thiết yếu đối với sức mạnh tổng hợp quốc gia. Đại đoàn kết dân tộc được cụ thể hóa bằng các cơ chế tham gia, đối thoại, phản biện và ghi nhận thực chất những đóng góp chuyên môn của tri thức người Việt trên khắp thế giới. Sự đồng hành tương tác hai chiều này mở ra không gian phát triển mới, đáp ứng khát vọng đóng góp cho quê hương của cộng đồng kiều bào trong thời đại mới.