Bỏ qua điều hướng
•

Kích thước sỏi mật bao nhiêu nguy hiểm?

Kích thước sỏi mật bao nhiêu nguy hiểm?
Nguồn ảnh: VnExpress

Bác sĩ siêu âm phát hiện tôi có sỏi túi mật kích thước 18 mm. Sỏi kích thước này nguy hiểm không, khi nào cần phẫu thuật? (Ngọc Đức, 42 tuổi, Bắc Ninh)

Trả lời:

Sỏi mật hình thành khi các thành phần trong dịch mật kết tinh, tạo thành những khối rắn trong túi mật hoặc đường mật. Triệu chứng gồm đau ở vùng bụng trên bên phải hoặc vùng thượng vị, cơn đau thường xuất hiện sau bữa ăn, đặc biệt là khi ăn nhiều chất béo, có thể kéo dài từ vài chục phút đến vài giờ. Trong trường hợp sỏi gây tắc nghẽn đường mật hoặc nhiễm trùng, người bệnh có thể vàng da, vàng mắt, sốt, rét run. Mức độ nguy hiểm của sỏi không chỉ phụ thuộc vào kích thước mà còn liên quan đến vị trí, triệu chứng sỏi gây ra.

Đối với sỏi túi mật chưa gây triệu chứng, người bệnh thường được chỉ định theo dõi định kỳ thay vì can thiệp. Khi sỏi gây đau bụng tái diễn, viêm túi mật hoặc các biến chứng khác, bác sĩ sẽ đánh giá, lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp, gồm phẫu thuật cắt túi mật hoặc tán sỏi, nhằm kiểm soát triệu chứng và hạn chế nguy cơ biến chứng.

Bác sĩ siêu âm ổ bụng cho người bệnh. Ảnh minh họa: Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh

Bác sĩ siêu âm ổ bụng cho người bệnh. Ảnh minh họa: Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh

Sỏi túi mật có kích thước lớn (đường kính trên 3 cm), có liên quan đến nguy cơ ung thư túi mật cao hơn. Trong những trường hợp này, bác sĩ có thể cân nhắc các phương pháp điều trị như phẫu thuật cắt túi mật hoặc tán sỏi. Tuy nhiên, hiện chưa có ngưỡng kích thước chung áp dụng cho tất cả người bệnh để quyết định can thiệp.

Sỏi túi mật của bạn kích thước 18 mm có thể chưa cần can thiệp ngay nếu không gây triệu chứng. Bạn nên khám định kỳ theo lịch để bác sĩ theo dõi, quyết định phương pháp điều trị phù hợp. Không nên tự dùng thuốc làm tan sỏi hoặc các sản phẩm được quảng cáo có tác dụng đào thải sỏi khi chưa có chỉ định của bác sĩ.

Người có sỏi túi mật nên hạn chế các món chiên rán, nhiều chất béo bão hòa để giảm kích thích túi mật co bóp. Ưu tiên rau xanh, trái cây, ngũ cốc nguyên hạt và nguồn đạm ít béo, đồng thời bổ sung chất béo không bão hòa với lượng phù hợp để duy trì chế độ ăn cân đối.

Người thừa cân nên giảm cân từ từ, tránh nhịn ăn hoặc giảm cân quá nhanh vì có thể làm tăng nguy cơ hình thành sỏi mật. Duy trì vận động thể lực thường xuyên, hạn chế ngồi lâu có thể hỗ trợ kiểm soát cân nặng và giảm nguy cơ hình thành sỏi mới.

Nếu xuất hiện các dấu hiệu như đau vùng bụng trên bên phải hoặc vùng thượng vị (nhất là sau ăn), cơn đau kéo dài hoặc tái diễn, buồn nôn, sốt, rét run, vàng da, vàng mắt hay nước tiểu sẫm màu, người bệnh nên đi khám để được kiểm tra.

ThS.BS Nguyễn Trung Hiếu
Khoa Tiêu hóa - Gan mật - Tụy
Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh

Độc giả đặt câu hỏi về bệnh tiêu hóa tại đây để bác sĩ giải đáp
Mức độ nguy hiểm của sỏi túi mật không hoàn toàn phụ thuộc vào kích thước mà liên quan chặt chẽ đến vị trí và biến chứng lâm sàng mà khối sỏi gây ra. Sỏi hình thành do các thành phần trong dịch mật kết tinh, thường biểu hiện qua những cơn đau vùng bụng trên bên phải hoặc thượng vị sau bữa ăn nhiều dầu mỡ. Hiện nay y khoa chưa đưa ra một ngưỡng kích thước cố định nào để áp dụng can thiệp phẫu thuật cho tất cả người bệnh. Đối với trường hợp sỏi kích thước 18 mm, nếu chưa xuất hiện triệu chứng thì bệnh nhân thường chỉ cần theo dõi định kỳ theo lịch hẹn thay vì phẫu thuật ngay. Can thiệp ngoại khoa như cắt túi mật hoặc tán sỏi chỉ được chỉ định khi sỏi gây đau bụng tái diễn, viêm nhiễm hoặc các biến chứng nguy hiểm. Đáng chú ý, các khối sỏi có đường kính lớn trên 3 cm mới có mối liên hệ rõ rệt với nguy cơ làm tăng khả năng phát triển ung thư túi mật. Người bệnh tuyệt đối không tự ý dùng các loại thuốc tán sỏi hay sản phẩm đào thải trôi nổi khi chưa có chỉ định từ bác sĩ chuyên khoa. Chế độ sinh hoạt cần hạn chế chất béo bão hòa, ưu tiên chất xơ từ rau quả, duy trì vận động và giảm cân khoa học để tránh kích thích túi mật co bóp quá mức. Bệnh nhân cần đến cơ sở y tế thăm khám ngay khi xuất hiện dấu hiệu đau dữ dội, buồn nôn, sốt rét run, vàng da hoặc nước tiểu sẫm màu.
amung