Theo số liệu tổng hợp về tình hình kinh tế, xã hội của 34 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, trong 9 tháng đầu năm, có 12/34 địa phương đạt mức tăng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) từ 10% trở lên. Quảng Ninh tiếp tục dẫn đầu (12,54%), theo sau là Hà Tĩnh (12,36%), Hải Phòng (12,08%)... Thái Nguyên, Hưng Yên và Khánh Hòa cũng duy trì mức tăng trên 11%.
Còn điểm nghẽn trong thực thi chính sách
Đằng sau kết quả tăng trưởng của các địa phương không chỉ là lợi thế về công nghiệp, thương mại hay khả năng thu hút vốn đầu tư. Vai trò của địa phương trong chất lượng điều hành và tổ chức thực thi chính sách ngày càng thể hiện rõ nét. Khi các cơ chế, chính sách được triển khai đồng bộ, những vướng mắc của doanh nghiệp được tháo gỡ kịp thời, môi trường kinh doanh sẽ được cải thiện.
PGS, TS Hồ Sỹ Hùng, Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho rằng, việc sắp xếp bộ máy hành chính và vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp góp phần đơn giản hóa thủ tục, cắt giảm điều kiện kinh doanh.
Điển hình tại các địa phương như Phú Thọ, Tây Ninh, Bắc Ninh và một số tỉnh khác, việc tháo gỡ vướng mắc về đất đai, đẩy mạnh phân cấp, trao quyền chủ động cho Chủ tịch UBND cấp tỉnh và triển khai cơ chế “luồng xanh” trong đầu tư đã tạo thuận lợi hơn cho doanh nghiệp. Nhiều địa phương cải thiện khả năng thu hút vốn đầu tư nước ngoài, bổ sung nguồn lực cho sản xuất, kinh doanh và tạo động lực tăng trưởng kinh tế.
Tương tự, về mô hình cửa khẩu thông minh tại Lạng Sơn, mô hình này đang xây dựng, chưa chính thức vận hành nhưng đã và đang thực hiện từng phần. Chẳng hạn như nền tảng cửa khẩu số đã vận hành cho lực lượng biên phòng, hải quan tại Cửa khẩu Đồng Đăng. Một số áp dụng bước đầu đang góp phần đổi mới phương thức quản lý, điều hành hoạt động xuất nhập khẩu. Ứng dụng công nghệ được kỳ vọng sẽ giúp rút ngắn thời gian thông quan, giảm chi phí logistics, tăng số lượng phương tiện được xử lý và hạn chế tình trạng ùn tắc...
Dù vậy, khoảng cách giữa quyền được quy định trên văn bản và khả năng thực hiện trên thực tế vẫn hiện hữu. Nhiều cơ quan thực thi có xu hướng lựa chọn phương án an toàn cho mình, trong khi rủi ro và chi phí lại dồn về phía doanh nghiệp.
Theo VCCI, trong kiểm tra thức ăn chăn nuôi nhập khẩu, pháp luật cho phép doanh nghiệp tự đánh giá sự phù hợp với chi phí khoảng 700 nghìn đồng hoặc thuê tổ chức chứng nhận với chi phí khoảng 5 triệu đồng. Tuy nhiên, để bảo đảm an toàn pháp lý, doanh nghiệp vẫn phải lựa chọn phương án có chi phí cao hơn gấp nhiều lần.
Trong lĩnh vực thủy sản, cùng một mặt hàng như tôm, cá, mực nhưng cơ quan thuế tại các địa phương có thể hướng dẫn áp dụng các mức thuế suất khác nhau, từ 0%, 5%, 8% đến 10%. Việc xác định chi phí sơ chế, chế biến thủy sản để tính thuế thu nhập doanh nghiệp cũng chưa nhất quán giữa các kỳ kiểm tra. Nhiều doanh nghiệp vẫn phải loay hoay đoán nghĩa vụ tài chính.
Nhiều địa phương đã giải quyết thủ tục nhanh hơn, nhưng vai trò hỗ trợ kiến tạo vẫn còn yếu nhất là đối với khối hộ kinh doanh. Khảo sát hơn 1.000 hộ kinh doanh năm 2026 của VCCI thì có tới 73,3% đánh giá gặp khó khăn pháp lý ở mức lớn hoặc nghiêm trọng và chỉ có 15,6% có ý định chuyển đổi lên doanh nghiệp trong 2 năm tới. “Những khoảng cách này cho thấy, đột phá thực thi không thể đến từ việc ban hành thêm văn bản. Nó đòi hỏi phải thay đổi cách tổ chức thực thi, cách phân bổ trách nhiệm và cách đo lường kết quả”, ông Hùng nêu rõ.
Đòi hỏi về không gian tăng trưởng mới
Tại phiên họp thường kỳ cuối tuần trước, Thủ tướng yêu cầu nhiều tỉnh, thành phố đạt mức tăng trưởng GRDP hai con số trong quý IV, trong đó 9 địa phương phấn đấu tăng trên 15%. Những địa phương có mức tăng trưởng thấp hơn chỉ tiêu cần rà soát, đánh giá đầy đủ tiềm năng và dư địa tăng trưởng, phấn đấu hoàn thành mục tiêu ở mức cao nhất.
Để chuyển hóa dư địa thành kết quả tăng trưởng thực chất, Chủ tịch VCCI cho rằng, cần tháo gỡ những điểm nghẽn trong thực thi chính sách, bắt đầu từ việc luật hóa các nguyên tắc rõ ràng, an toàn. Khi quy định chưa rõ, cần ưu tiên cách hiểu có lợi cho người dân, doanh nghiệp; không từ chối hồ sơ chỉ vì thiếu hướng dẫn; đồng thời miễn trách nhiệm cho cán bộ làm đúng hướng dẫn bằng văn bản và không áp dụng hồi tố gây bất lợi. Những nguyên tắc này sẽ tạo cơ sở pháp lý để cán bộ yên tâm xử lý công việc đồng thời giúp doanh nghiệp thực hiện đầy đủ các quyền đã được pháp luật quy định.
Việc áp dụng pháp luật cũng cần thống nhất trên toàn quốc. Các bộ, ngành cần ban hành hướng dẫn chi tiết kèm phụ lục tra cứu và thí dụ cụ thể; công khai các ý kiến giải đáp chuyên môn để áp dụng chung đối với những trường hợp tương tự, hạn chế tình trạng cùng một quy định nhưng được diễn giải khác nhau giữa các địa phương.
Nâng cao năng lực thực thi cần đi đôi với liên thông dữ liệu. Việc bố trí nhân lực cấp xã cần căn cứ vào khối lượng hồ sơ thực tế, kết hợp tăng cường hỗ trợ chuyên môn từ cấp tỉnh. Hệ thống tra cứu dữ liệu tập trung cần từng bước thay thế việc xác nhận thủ công giữa các địa phương, qua đó rút ngắn quy trình xử lý, giảm chi phí tuân thủ và nâng cao hiệu quả phục vụ người dân, doanh nghiệp.
Đáng quan ngại hơn, nhiều nhiệm vụ được chuyển giao về cấp cơ sở nhưng năng lực chuyên môn của một bộ phận cán bộ cấp xã chưa theo kịp yêu cầu mới. Tâm lý chờ hướng dẫn vẫn xuất hiện ở một số lĩnh vực, khiến thủ tục kéo dài.
Chất lượng thực thi cần được đánh giá bằng kết quả cụ thể, thông qua bộ chỉ số độc lập về thời gian xử lý, chi phí doanh nghiệp phải bỏ ra và mức độ nhất quán trong áp dụng chính sách. Việc đánh giá người đứng đầu nên thực hiện theo chu kỳ từ 3 năm trở lên. Khoảng thời gian này phù hợp với độ trễ của chính sách và khuyến khích các cải cách dài hạn.
“Đổi mới chính sách tạo ra cơ hội, nhưng chính năng lực thực thi tại các địa phương mới là yếu tố quyết định chuyển hóa cơ hội thành tăng trưởng kinh tế thực chất”, ông Hùng kết luận.
Tuy vậy, để tạo đột phá, TS Nguyễn Quốc Việt, chuyên gia kinh tế cho rằng, các địa phương cần xác định đúng năng lực cạnh tranh và gắn kết lợi thế của mình với không gian phát triển của vùng. Việc sắp xếp đơn vị hành chính và cải cách chính quyền địa phương cần hướng tới mở ra những không gian tăng trưởng mới thông qua liên kết vùng và phát triển các hành lang kinh tế, thay vì chỉ gia tăng nguồn lực cho những động lực tăng trưởng truyền thống.
Quy hoạch không gian phát triển cần gắn với đầu tư đồng bộ hạ tầng giao thông, logistics, cảng biển và kết nối các hành lang kinh tế. Trên cơ sở đó, các địa phương có thể liên kết chuỗi giá trị công nghiệp, nông nghiệp, phát huy lợi thế bổ trợ lẫn nhau.
Việc hình thành các vùng động lực, trung tâm đổi mới sáng tạo và khoa học công nghệ cũng có ý nghĩa quan trọng trong nâng cao giá trị gia tăng. Những khu vực có lợi thế về nguồn nhân lực chất lượng cao và năng lực công nghệ có thể thúc đẩy phát triển dịch vụ, hỗ trợ chuyển đổi số, đổi mới quy trình sản xuất và hình thành các mô hình kinh doanh mới cho cả công nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp.
“Đây là hướng đi cần thiết để các địa phương chuyển đổi mô hình tăng trưởng, khai thác hiệu quả các động lực và không gian phát triển mới, thay vì chỉ dựa vào việc gia tăng đầu vào của những động lực tăng trưởng cũ”, ông Việt nêu rõ.
GIA HƯNG