Bỏ qua điều hướng
•

Sắp xếp ngành đào tạo, tránh chạy theo xu hướng

Sắp xếp ngành đào tạo, tránh chạy theo xu hướng
Nguồn ảnh: Nhân Dân

Từ ngày 1/1/2027, các khóa tuyển sinh đại học áp dụng danh mục ngành đào tạo mới theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đặt ra yêu cầu các trường phải rà soát, sắp xếp ngành học và cập nhật chương trình đào tạo, đáp ứng nhu cầu nhân lực trong những lĩnh vực mới như trí tuệ nhân tạo (AI), khoa học...

Không chỉ là chuyện đổi tên ngành

Ngày 28/8/2026, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) ban hành Thông tư số 74/2026/TT-BGDĐT quy định danh mục ngành đào tạo các trình độ của giáo dục đại học. Theo đó, các cơ sở đào tạo cần rà soát, phân loại và sắp xếp những chương trình thuộc diện chuyển tiếp theo quy định.

Theo ông Nguyễn Tiến Thảo, Vụ trưởng Giáo dục đại học (Bộ GD&ĐT), việc cập nhật danh mục tạo cơ sở pháp lý để các trường phát triển chương trình đào tạo phù hợp nhu cầu nhân lực mới. Tuy nhiên, cập nhật danh mục không đồng nghĩa tất cả các trường phải mở ngành mới, nhất là những lĩnh vực đòi hỏi đầu tư lớn như trí tuệ nhân tạo (AI), khoa học dữ liệu hay bán dẫn. Tùy điều kiện thực tế, mỗi trường có thể phát triển ngành mới, điều chỉnh chương trình hiện có hoặc bổ sung kiến thức công nghệ vào những ngành phù hợp với thế mạnh.

Việc mở ngành và tổ chức đào tạo phải gắn với các điều kiện bảo đảm chất lượng, từ đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất, học liệu đến môi trường thực hành. Vì vậy, đổi mới không thể chỉ dừng ở việc thay tên ngành, mã ngành hoặc bổ sung một vài học phần. Điều quan trọng là chương trình trang bị cho người học những kiến thức, kỹ năng gì và đáp ứng yêu cầu công việc đến đâu sau khi tốt nghiệp.

Tại Hội nghị Giáo dục đại học năm 2026, Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu lưu ý, năng lực và chất lượng giữa các cơ sở giáo dục đại học còn chênh lệch; sứ mệnh, thế mạnh của một số trường chưa rõ. Đáng chú ý, một số cơ sở mở ngành, tăng quy mô tuyển sinh nhanh hơn khả năng phát triển đội ngũ và điều kiện bảo đảm chất lượng.

Thực tế này đòi hỏi các trường cân nhắc kỹ trước khi mở rộng đào tạo, nhất là ở những lĩnh vực công nghệ có yêu cầu chuyên môn sâu và chi phí đầu tư cao. Với các trường địa phương, lựa chọn hướng đi vừa sức, phát huy được thế mạnh hiện có là vấn đề cần tính đến ngay từ khâu xây dựng chương trình.

Nhiều ý kiến lãnh đạo các trường đại học đóng góp, khó khăn trước hết nằm ở đội ngũ giảng viên. AI, khoa học dữ liệu, bán dẫn và robot đều đòi hỏi kiến thức chuyên sâu, năng lực nghiên cứu và kinh nghiệm triển khai các dự án thực tế. Trong khi đó, nhân lực có chuyên môn ở những lĩnh vực này có nhiều cơ hội làm việc tại doanh nghiệp công nghệ với điều kiện nghề nghiệp hấp dẫn. Với những trường có quy mô tuyển sinh nhỏ, khả năng tài chính hạn chế, việc thu hút và giữ chân chuyên gia càng khó khăn. Không chỉ thiếu giảng viên có chuyên môn sâu, một số cơ sở còn phải bồi dưỡng đội ngũ hiện có, cập nhật kiến thức và tổ chức các nhóm giảng dạy liên ngành. Đào tạo công nghệ cũng đặt ra yêu cầu cập nhật liên tục. Nếu phụ thuộc quá nhiều vào giảng viên thỉnh giảng hoặc chuyên gia bên ngoài, nhà trường có thể gặp khó khăn trong việc duy trì đội ngũ ổn định, bảo đảm tính liên tục của chương trình và hỗ trợ người học trong suốt khóa đào tạo.

Bài toán thứ hai là kinh phí. Đào tạo công nghệ không chỉ cần máy tính và phần mềm thông thường. Với AI, sinh viên cần môi trường lập trình, dữ liệu thực hành, năng lực tính toán và công cụ phục vụ xây dựng, kiểm thử, đánh giá mô hình. Trong khi đó, đào tạo bán dẫn, robot và một số lĩnh vực chuyên sâu khác đòi hỏi thiết bị, vật tư và phòng thí nghiệm có chi phí lớn. Đầu tư ban đầu mới chỉ là một phần của bài toán. Các trường còn phải chi cho bảo trì, nâng cấp thiết bị, vận hành hệ thống và bảo đảm an toàn dữ liệu. Nếu không có kinh phí duy trì thường xuyên, phòng thực hành khó phát huy hiệu quả, sinh viên thiếu cơ hội tiếp xúc với công nghệ và quy trình làm việc thực tế. Với các trường địa phương, nguồn thu còn phụ thuộc quy mô tuyển sinh và khả năng cân đối tài chính. Trong khi đó, mở ngành mới đòi hỏi đầu tư từ trước, tổ chức đào tạo qua nhiều năm mới có thể đánh giá đầy đủ hiệu quả. Nếu không tuyển đủ sinh viên, áp lực tài chính sẽ càng lớn.

Chọn hướng đi phù hợp

Tại Hội nghị Câu lạc bộ các trường đại học thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tháng 5/2026, TS Nguyễn Ngọc Hiếu, Hiệu trưởng Trường đại học Nghệ An, nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh ứng dụng AI trong quản trị và đào tạo, nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, tăng cường nghiên cứu khoa học gắn với thực tiễn. Theo ông, các đề án phát triển cần làm rõ mục tiêu, nguồn lực, tính khả thi và vấn đề cần giải quyết, thay vì chỉ dừng ở tên gọi. Đặt trong yêu cầu sắp xếp ngành đào tạo, điều này có nghĩa mỗi chương trình mới phải bắt đầu từ nhu cầu thực tế và năng lực triển khai của nhà trường. Một ngành học chỉ có thể vận hành hiệu quả khi có giảng viên đáp ứng yêu cầu, học liệu phù hợp, môi trường thực hành và nguồn lực duy trì.

Tại Hội thảo khoa học quốc gia về giáo dục đại học trong kỷ nguyên mới ngày 2/10/2026, TS Trần Việt Anh, Phó Hiệu trưởng phụ trách Trường đại học Hùng Vương, TP Hồ Chí Minh, lưu ý các cơ sở giáo dục đại học cần xác định rõ lựa chọn chiến lược và giá trị khác biệt của mình. Theo ông, không phải trường nào cũng cần làm tất cả mọi thứ, nhưng mỗi trường phải có bản sắc và lựa chọn chiến lược rõ ràng.

Với các trường địa phương, điều đó không nhất thiết đồng nghĩa với việc phải cạnh tranh trực tiếp với những cơ sở có tiềm lực nghiên cứu mạnh để mở ngành AI hay bán dẫn. Một lựa chọn thực tế hơn là phát huy thế mạnh sẵn có, từng bước đưa kiến thức công nghệ vào chương trình đào tạo, gắn với nhu cầu nhân lực của địa phương và khu vực. Chẳng hạn, các trường có thế mạnh về du lịch có thể bổ sung kiến thức phân tích dữ liệu khách hàng, quản trị dịch vụ thông minh. Cơ sở đào tạo nông nghiệp có thể tích hợp công nghệ cảm biến, phân tích dữ liệu và tự động hóa vào chương trình hiện hành. Với các trường đào tạo kinh tế, việc ứng dụng AI trong phân tích thị trường, quản trị và hỗ trợ ra quyết định có thể tạo thêm năng lực nghề nghiệp cho sinh viên.

Cách làm này giúp các trường tận dụng đội ngũ, chương trình và cơ sở vật chất hiện có, đồng thời tạo nét riêng trong đào tạo. Tuy nhiên, tích hợp công nghệ không thể chỉ là bổ sung vài học phần mang tên AI. Nội dung giảng dạy phải gắn với chuẩn đầu ra, có học liệu phù hợp và giảng viên đủ năng lực hướng dẫn; phương pháp dạy học cũng cần thay đổi để sinh viên có cơ hội vận dụng kiến thức vào giải quyết vấn đề thực tế.

Cùng với đó, liên kết doanh nghiệp cần đi vào thực chất. Doanh nghiệp có thể tham gia xây dựng chuẩn đầu ra, đề xuất bài toán thực tiễn, hướng dẫn đồ án, tiếp nhận sinh viên thực tập và đánh giá sản phẩm. Hiệu quả hợp tác cần được thể hiện qua năng lực nghề nghiệp của sinh viên, chất lượng thực hành và khả năng đáp ứng yêu cầu tuyển dụng, thay vì chỉ tính bằng số biên bản ghi nhớ được ký kết.

Để các trường có nguồn lực hạn chế từng bước đáp ứng yêu cầu mới, bên cạnh nỗ lực tự thân, cần có cơ chế hỗ trợ phù hợp. Một hướng đi là tăng cường hợp tác giữa các trường trong cùng khu vực, chia sẻ phòng thí nghiệm, hạ tầng tính toán, học liệu và chương trình bồi dưỡng giảng viên. Thay vì mỗi cơ sở phải đầu tư toàn bộ hệ thống thiết bị đắt tiền, mô hình dùng chung có thể giúp giảm chi phí và mở rộng cơ hội thực hành cho người học.

Hợp tác giữa nhà trường, doanh nghiệp và địa phương cũng cần được tổ chức theo nhiệm vụ, sản phẩm và kết quả cụ thể. Doanh nghiệp hỗ trợ chuyên gia, bài toán thực tiễn và vị trí thực tập; địa phương cung cấp thông tin về nhu cầu nhân lực gắn với định hướng phát triển kinh tế - xã hội. Trên cơ sở đó, các trường có thể xây dựng lộ trình đầu tư, tuyển sinh và phát triển chương trình sát với điều kiện thực tế.

Những cơ chế hỗ trợ này không nhằm hạ thấp điều kiện mở ngành, mà giúp các trường có thêm khả năng đáp ứng yêu cầu về đội ngũ, cơ sở vật chất và chất lượng đào tạo. Khi danh mục ngành đào tạo được cập nhật, điều cần tránh không chỉ là tình trạng đổi tên ngành nhưng nội dung không thay đổi, mà còn là việc mở rộng đào tạo vượt quá năng lực. Sắp xếp ngành học chỉ thật sự có ý nghĩa khi đi cùng lựa chọn chiến lược rõ ràng, đầu tư có trọng tâm và cam kết về chất lượng đầu ra.

THẾ PHONG, BÍCH NGỌC

Thông tư số 74/2026/TT-BGDĐT ban hành ngày 28/8/2026 quy định danh mục ngành đào tạo đại học mới, áp dụng cho các khóa tuyển sinh từ ngày 1/1/2027 nhằm đáp ứng nhu cầu nhân lực trong những lĩnh vực mới. Vụ trưởng Giáo dục đại học Nguyễn Tiến Thảo khẳng định việc cập nhật danh mục tạo hành lang pháp lý cần thiết, song không đồng nghĩa tất cả cơ sở đào tạo đều phải mở ngành mới. Thay vì chạy theo hình thức đổi tên hay mã ngành, các trường cần dựa trên điều kiện thực tế để thiết kế chương trình trang bị năng lực thực chất cho người học. Tại Hội nghị Giáo dục đại học năm 2026, Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu cảnh báo tình trạng một số cơ sở mở ngành và tăng quy mô tuyển sinh vượt quá năng lực bảo đảm chất lượng. Các trường đại học đang đối mặt với thách thức lớn về việc tuyển dụng, bồi dưỡng và giữ chân đội ngũ giảng viên chuyên sâu trước sự cạnh tranh thu nhập gay gắt từ khối doanh nghiệp công nghệ. Việc quá phụ thuộc vào giảng viên thỉnh giảng hoặc chuyên gia bên ngoài cũng tiềm ẩn rủi ro phá vỡ tính ổn định và tính liên tục trong công tác đào tạo. Bên cạnh nhân lực, rào cản chi phí đầu tư cơ sở vật chất cho môi trường lập trình, dữ liệu và năng lực tính toán phục vụ đào tạo công nghệ cao đặt ra bài toán tài chính nặng nề. Thực tế này đòi hỏi các trường, đặc biệt là các cơ sở đào tạo địa phương, phải lượng sức và tập trung phát huy thế mạnh hiện có thay vì mở rộng dàn trải. Việc tổ chức đào tạo hiệu quả phải gắn liền với năng lực bảo đảm chất lượng đồng bộ, tránh tâm lý chạy theo xu hướng gây lãng phí nguồn lực xã hội.
amung