Hạn chế xét nghiệm lặp lại không cần thiết
Anh Nguyễn Mạnh Khang (35 tuổi, trú tại Lào Cai) nhập viện tại BV Đa khoa tỉnh Lào Cai khi được chẩn đoán suy động mạch vành. Sau khi phát hiện thêm một số vấn đề về huyết học, anh được chuyển lên BV tuyến trên. Trong quá trình tiếp tục điều trị, anh nhiều lần phải thực hiện lại các xét nghiệm máu và siêu âm, dù một số kết quả tại cơ sở trước đó mới được thực hiện chưa đầy một ngày.
Một bệnh nhân khác được chuyển từ BV Tim Hà Nội sang BV Bệnh Nhiệt đới Trung ương. Khi tiếp nhận, các bác sĩ tại BV Bệnh Nhiệt đới Trung ương có thể sử dụng kết quả siêu âm tim đã thực hiện tại BV Tim Hà Nội, chỉ yêu cầu làm thêm những xét nghiệm chuyên sâu liên quan đến tình trạng nhiễm trùng, sốt xuất huyết. Theo bác sĩ Nguyễn Trung Cấp, Phó Giám đốc BV Bệnh Nhiệt đới Trung ương, khi đó nếu không công nhận kết quả đã có, người bệnh có thể phải thực hiện lại siêu âm tim, vừa phát sinh chi phí, vừa mất thêm thời gian chờ đợi.
Hai trường hợp trên cho thấy thực tế: Cùng một người bệnh, cùng một quá trình điều trị nhưng giá trị của dữ liệu cận lâm sàng có thể khác nhau tùy khả năng kết nối và mức độ tin cậy của cơ sở thực hiện. Việc liên thông vì thế không đơn thuần là chuyển một tệp dữ liệu từ BV này sang BV khác, mà đòi hỏi kết quả phải đủ thông tin và được cơ sở tiếp nhận đánh giá trước khi sử dụng.
Như vậy, điểm đáng chú ý không phải là “bỏ xét nghiệm lại” mà là chỉ xét nghiệm lại khi thật sự cần thiết. Cách tiếp cận này vừa hạn chế lãng phí nguồn lực, vừa bảo đảm quyết định chuyên môn không bị chi phối bởi mục tiêu giảm chi phí đơn thuần. Theo bà Trần Thị Trang, Vụ trưởng Bảo hiểm y tế (Bộ Y tế), mỗi xét nghiệm đều sử dụng máy móc, hóa chất, nhân lực và thời gian của cơ sở khám, chữa bệnh. Khi một kết quả còn giá trị được sử dụng lại, nguồn lực này có thể được dành cho những người bệnh thật sự cần xét nghiệm.
Việc liên thông trên khi được áp dụng, cũng tạo thêm cơ sở để quản lý chi phí khám, chữa bệnh BHYT. Khi kết quả xét nghiệm được lưu trữ, truy xuất và đối chiếu trên hệ thống, cơ quan quản lý có thêm dữ liệu để đánh giá việc chỉ định, thực hiện và thanh toán dịch vụ kỹ thuật, qua đó hạn chế những trường hợp xét nghiệm lặp lại không cần thiết.
Chuẩn hóa để kết quả “đi cùng” người bệnh
Để liên thông kết quả trở thành một phần thực chất của quá trình khám, chữa bệnh, yêu cầu trước hết là chuẩn hóa. Kết quả được chia sẻ không chỉ cần xuất hiện trên cùng một hệ thống mà phải bảo đảm cơ sở tiếp nhận có đủ thông tin để đánh giá khả năng sử dụng.
BV Bạch Mai là một thí dụ về quá trình chuẩn hóa hoạt động xét nghiệm. Tại Khoa Hóa sinh, Viện Xét nghiệm Y học thực hiện gần 100 nghìn xét nghiệm mỗi ngày. BV đã triển khai tự động hóa các khâu trước, trong và sau xét nghiệm; hệ thống vận chuyển mẫu bằng khí nén kết nối nhiều khu vực, đồng thời kết nối hệ thống xét nghiệm với bệnh án điện tử. PGS, TS Đào Xuân Cơ, Giám đốc BV Bạch Mai cho biết: “Đây là những yếu tố quan trọng để kết quả xét nghiệm được quản lý, truy xuất và sử dụng thống nhất. Khi mỗi kết quả có đầy đủ thông tin về người bệnh, thời điểm lấy mẫu, thời điểm thực hiện, phương pháp và các dữ liệu cần thiết khác, cơ sở tiếp nhận sẽ có căn cứ để đánh giá khả năng sử dụng kết quả. Về lâu dài, dữ liệu đã được tạo ra có thể tiếp tục phục vụ quá trình điều trị khi người bệnh chuyển cơ sở khám, chữa bệnh”.
Một số cơ sở khác cũng đang chuẩn hóa phòng xét nghiệm để tạo nền tảng cho việc công nhận và sử dụng kết quả giữa các tuyến. Chẳng hạn, Khoa Xét nghiệm BV Đa khoa Yên Phong, Bắc Ninh, đã được công nhận phù hợp tiêu chuẩn ISO 15189:2022. Theo địa phương, đây là BV đa khoa khu vực công lập đầu tiên của tỉnh đạt tiêu chuẩn này, qua đó tạo điều kiện nâng cao chất lượng xét nghiệm và thuận lợi hơn cho việc liên thông kết quả giữa các tuyến.
Từ những thực tế trên, có thể thấy, để một kết quả xét nghiệm “đi cùng” người bệnh, việc kết nối phần mềm chỉ là một phần của bài toán. Quan trọng hơn là chất lượng và tính chuẩn hóa của dữ liệu. Cơ sở tiếp nhận phải biết kết quả được thực hiện khi nào, bằng phương pháp nào, tại đâu, trong điều kiện kiểm soát chất lượng ra sao và còn phù hợp với tình trạng hiện tại của người bệnh hay không.
Nguyễn Hà