Bỏ qua điều hướng
•

Mùa hoa trên con dốc cũ

Mùa hoa trên con dốc cũ
Nguồn ảnh: Nhân Dân

Chiếc xe dừng ở đầu bản khi trời vừa sáng. Páo kéo chiếc va-li xuống, đứng nhìn con dốc trước mặt. Người lái xe nhận tiền, quay đầu chiếc bán tải. Tiếng máy nổ khuất dần sau khúc cua. Bản còn ngái ngủ. Khói bếp từ những mái nhà thấp bay lên, quẩn trong màn sương mỏng. Một tiếng gà gáy vọng từ phía bên kia sườn núi, rồi im bặt.

Páo không đi ngay. Con dốc ngày trước là một vệt đất đỏ ngoằn ngoèo. Mùa mưa, bùn dính đến mắt cá chân, mùa đông, những mảng đất ẩm trơn nhẫy, lũ trẻ đi học phải bám vào nhau mà bước. Bây giờ con đường đã được đổ bê-tông. Những ngôi nhà gỗ thưa dần, xen giữa những mái tôn xanh, đỏ. Bên hiên vài nhà còn treo những bắp ngô đã khô vàng.

Chỉ cây hoa mận bên mép dốc vẫn còn. Thân cây lớn đến mức hai người ôm mới xuể. Vỏ cây xù xì, loang những mảng rêu xanh. Những cành già vươn ra phía đường, phủ đầy hoa trắng.

Páo đặt bàn tay lên thân cây. Mảng vỏ cây sần sùi dưới lòng bàn tay. Một mùi ngai ngái của đất ẩm, cỏ non và khói củi bất chợt kéo cô trở về một buổi sáng mùa đông của hơn hai mươi năm trước…

Khi ấy, đôi dép nhựa dưới chân cô đã đứt quai.

- Páo!

Tiếng gọi phía sau làm cô quay lại. Mỹ đang đi xuống dốc. Vẫn dáng người nhỏ nhắn ấy, chỉ có mái tóc đã lẫn vài sợi bạc. Mỹ nhìn Páo một lúc rồi cười. Hai mắt đỏ hoe.

Hai người ôm nhau.

- Mày về rồi.

- Ừ.

Mỹ nắm lấy quai va-li. Hai người đi lên dốc. Qua mấy căn nhà, một đứa trẻ chạy vụt ra sân, trên tay cầm chiếc bánh ngô. Nó nhìn Páo rồi núp sau lưng mẹ. Người phụ nữ trẻ cười, gọi con vào.

Mỹ vừa đi vừa nói:

- Thầy nhắc mày mấy lần.

Páo ngẩng lên.

- Thầy còn nhắc tao?

- Ừ.

- Nhắc gì?

Mỹ nhìn cây hoa mận phía sau.

- Bảo khi nào mày về thì dẫn mày lên đây.

Páo định hỏi thêm nhưng Mỹ đã bước tiếp.

Đám tang thầy Lữ diễn ra giản dị. Căn nhà nhỏ cuối bản hôm ấy đông người. Những học trò cũ từ các bản khác cũng tìm về. Có người đã trở thành giáo viên, có người làm cán bộ xã, có người vẫn ngày ngày lên nương. Những gương mặt Páo không còn nhớ tên vẫn nhận ra cô.

- Páo phải không?

- Ngày trước bé tí mà giờ...

Có người bỏ lửng câu nói, chỉ cười. Páo cũng cười. Cô đứng trước di ảnh thầy rất lâu.

Trong ảnh, thầy mặc chiếc áo

sơ-mi trắng, khuôn mặt gầy, mái tóc bạc. Đôi mắt nhìn thẳng vào người đối diện, nghiêm nhưng không lạnh.

Páo nhớ đôi mắt ấy. Hồi nhỏ, chỉ cần thầy cúi xuống nhìn quyển vở là cô biết mình vừa viết sai.

*

Thầy Lữ lên bản dạy học khi Páo còn chưa ra đời. Người ta bảo ông định ở vài năm rồi về xuôi, vậy mà ở lại đến già. Mỹ kể, những năm cuối chân thầy đau, mùa lạnh đi lại khó khăn, nhưng sáng nào ông cũng dậy sớm, nhóm bếp rồi ngồi bên cửa sổ đọc báo.

Páo nghe mà thấy trong lòng một khoảng trống rất lạ. Cô nhớ lần đầu mình định bỏ học.

Nhà nghèo. Mùa đông năm ấy rét đậm. Mẹ phải dậy từ lúc trời chưa sáng để nhóm bếp, nấu nồi cháo ngô cho mấy chị em. Đôi dép nhựa của Páo đứt quai. Cô lấy dây vải buộc lại, nhưng đi được một đoạn thì tuột.

Buổi sáng hôm đó, Páo đứng ngoài cửa lớp, không chịu vào. Thầy Lữ đi ngang qua.

- Sao không vào học?

- Em nghỉ.

- Vì sao?

Páo cúi xuống.

- Dép hỏng.

Thầy nhìn đôi chân cô một lúc.

- Chân có sao không?

Páo ngước lên. Thầy không nói thêm, chỉ đi vào lớp. Chiều tan học, ông gọi cô lại. Trên bàn là một đôi giày vải màu xanh. Páo đứng im.

- Em không lấy đâu.

- Ai bảo cho?

- Thầy...

- Thầy cho mượn.

- Em không có tiền trả.

Thầy dùng đầu bút chì gõ nhẹ lên mặt bàn, thói quen mỗi khi ông nghĩ điều gì.

- Khi nào có thì trả. Không có thì thôi.

Páo vẫn không nhận. Thầy nhìn cô:

- Muốn đi học thì mang. Không muốn thì để đấy.

Páo cầm đôi giày. Ngày hôm sau, cô đi học. Đôi giày theo cô qua những buổi sáng đầy sương, qua những mùa mưa con dốc đỏ quạch bùn đất. Có hôm nước suối dâng, cả lớp nghỉ học, Páo vẫn mang giày ngồi bó gối bên cửa sổ, nghe tiếng nước cuồn cuộn dưới chân núi.

Có lần cô chạy qua suối sau một trận mưa. Nước ngập gần đến đầu gối. Về đến lớp, đôi giày ướt sũng. Páo đem đặt dưới mái hiên, loay hoay mãi không biết làm sao cho khô.

Thầy đi ngang, nhìn đôi giày.

- Cũ rồi thì đừng tiếc.

Páo ngẩng lên.

- Em sợ hỏng.

Thầy cười:

- Giày hỏng thì sửa. Chân lành thì cứ đi.

Páo không hiểu vì sao câu nói ấy khiến mình nhớ mãi.

*

Chiều muộn, khách đã về gần hết. Mỹ đun một ấm nước trên bếp. Páo ngồi bên cửa sổ, nhìn con dốc chìm dần trong sương. Mấy mái nhà phía dưới lần lượt lên khói. Mùi củi cháy lẫn với mùi ngô nướng từ căn bếp bên cạnh bay sang.

- Những năm cuối thầy sống thế nào? - Páo hỏi.

- Vẫn thế. Chân đau nhiều hơn thôi.

Páo im lặng một lúc rồi hỏi:

- Thầy còn lên trường cũ không?

- Không. Trường chuyển xuống dưới rồi. Nhưng thỉnh thoảng thầy vẫn đi qua.

- Làm gì?

Mỹ nhún vai.

- Đi một vòng rồi về.

Páo cười khẽ.

- Vẫn cái tính ấy.

Mỹ không hỏi lại. Một lúc sau, cô đứng dậy, đi vào buồng. Khi trở ra, trên tay là một chiếc hộp gỗ nhỏ.

- Cái này thầy để lại cho mày.

Páo nhận lấy. Chiếc hộp nhẹ đến mức gần như không có gì bên trong. Cô mở nắp. Một đôi giày vải cũ nằm ngay ngắn dưới lớp giấy báo đã ngả màu.

Páo sững người. Cô nhận ra ngay. Đôi giày năm nào. Vải đã bạc màu. Một bên mũi giày sờn chỉ. Đường chỉ trắng ở gót trái vẫn còn nguyên.

Páo chạm đầu ngón tay lên đó.

- Sao thầy còn giữ?

Mỹ lắc đầu.

- Tao không biết.

Bên dưới đôi giày có một mảnh giấy gấp làm tư. Páo mở ra. Nét chữ của thầy nghiêng nghiêng: “Páo, nếu còn nhớ con dốc này thì về một lần”.

Páo đọc lại. Ngoài hiên, một cành mận va nhẹ vào mái nhà.

- Thầy viết trước hôm mất mấy ngày - Mỹ nói.

Páo gấp mảnh giấy lại.

- Sao thầy không gọi?

Mỹ nhìn ra cửa. Một lúc sau, cô mới nói:

- Thầy bảo, có những người không cần gọi cũng biết đường về.

Páo không nói nữa. Cô cúi xuống, đặt bàn tay lên đôi giày.

Quá nhiều năm. Thầy vẫn giữ chúng. Còn cô, đã bao lần nhìn thấy những đôi giày mới trong các cửa hàng dưới phố mà chẳng một lần nhớ đến đôi giày này.

Sáng hôm sau, Mỹ đưa Páo lên dốc. Sương còn mắc trên những bụi cỏ ven đường. Một đứa trẻ cưỡi xe đạp đi ngang, cúi đầu chào Mỹ rồi lao xuống dốc. Tiếng chuông xe leng keng một lúc lâu mới mất hút.

Páo đi chậm. Đến dưới cây hoa mận, cô dừng lại. Ngày cô rời bản cũng là mùa hoa. Khi ấy, cây mận chỉ cao hơn đầu người một chút. Thầy Lữ đứng bên cạnh, hai tay đút trong túi áo.

- Xuống dưới ấy nhớ học.

Páo cười:

- Em sẽ học thật giỏi.

Thầy không cười. Ông nhìn xuống con đường đang chạy qua những

mái nhà.

- Biết mình muốn đi đâu là được.

Páo khi ấy chưa hiểu. Cô chỉ nhớ lúc xe chạy khỏi bản, thầy vẫn đứng dưới gốc cây. Mẹ cô vẫy tay cho đến khi chiếc xe khuất sau dãy núi.

Páo đã nghĩ mình sẽ trở về vào mùa hoa năm sau. Nhưng năm sau, cô đang thi.

Rồi đi học xa. Rồi xin việc. Những năm tháng dưới xuôi nối nhau. Có những mùa hoa cô chỉ nhìn thấy qua vài tấm ảnh Mỹ gửi. Có lần định về, nhưng công việc không cho phép. Có lần được nghỉ, cô lại nghĩ để năm sau.

Ở thành phố, buổi sáng Páo thường chen giữa những dòng xe đông nghịt. Căn phòng cô ở nhìn xuống một con phố lúc nào cũng sáng đèn. Có những hôm đi qua một hàng cây mận trồng ven đường, thấy hoa trắng trên nền trời, cô đứng lại một chút rồi đi tiếp.

Cô vẫn nhớ bản. Chỉ là mỗi lần nghĩ đến việc trở về, cô lại thấy mình chưa có lý do gì đủ lớn.

Mỹ bỗng hỏi:

- Mày có giận thầy không?

Páo ngạc nhiên.

- Sao tao phải giận?

- Vì thầy không gọi mày về.

Páo nhìn bạn. Mỹ nói:

- Trước khi mất, thầy bảo tao đừng gọi. Thầy nói, nếu mày muốn về thì tự mày sẽ về.

Páo cúi xuống.

- Thầy biết tao muốn về?

- Tao không biết.

Mỹ ngừng một chút rồi nhìn lên

cây mận.

- Thầy chỉ nói, người đi xa ai cũng có một con dốc để nhớ.

Gió lùa qua. Những chùm hoa mận rung lên, vài cánh hoa rơi xuống vai áo Páo. Cô phủi nhẹ.

- Tao cứ nghĩ phải làm được một điều gì đó rồi mới dám về.

Mỹ nhìn cô.

- Thầy có bao giờ hỏi mày làm được gì đâu.

Páo cười rất khẽ. Cô không trả lời.

Ngày ấy, thầy bảo cho mượn. Cô đã mang đôi giày qua một đoạn đời dài, rồi chẳng nhớ từ bao giờ chúng nằm lại trong căn nhà của thầy.

*

Trưa hôm ấy, Páo xuống núi. Mỹ tiễn cô đến đầu dốc. Chiếc va-li kéo trên mặt đường bê-tông, tiếng bánh xe lộc cộc giữa buổi trưa vắng. Qua khúc cua, Páo nghe tiếng dao bổ củi từ một căn nhà vọng ra đều đặn. Đến dưới cây hoa mận, Páo dừng lại.

Mỹ hỏi:

- Bao giờ mày về nữa?

Páo nhìn lên. Hoa vẫn trắng như ngày nào. Cô nói:

- Mùa hoa.

Mỹ cười:

- Mùa hoa năm nào chẳng có.

Páo cũng cười.

- Ừ.

Cô bước xuống dốc. Đi được một đoạn, Páo quay lại. Mỹ vẫn đứng dưới cây.

Bất chợt cô nhớ buổi sáng mùa đông năm ấy. Nhớ đôi chân tím vì lạnh. Nhớ bàn tay thầy đẩy đôi giày về phía mình.

Páo kéo va-li đi tiếp. Đôi giày cũ không theo cô xuống núi. Cô đặt chúng lại trên chiếc bàn gỗ cạnh cửa sổ. Từ đó, mỗi sáng, ánh nắng đầu ngày sẽ đi qua khung cửa, chạm lên đôi giày trước khi rơi xuống con dốc.

Mảnh giấy của thầy nằm trong túi áo. Gió từ trên núi thổi xuống. Một cánh hoa mận rơi trên mặt đường. Páo đi chậm lại. Sau lưng cô, cây mận vẫn đứng trắng trong sương.

Ngoài kia, mùa hoa đang nở.

truyện ngắn của HOÀI THANH

Tác phẩm "Mùa hoa trên con dốc cũ" phác họa hành trình trở về bản làng đầy hoài niệm của Páo sau hơn hai mươi năm xa cách. Trải qua thời gian, diện mạo vùng núi đã có những thay đổi rõ rệt với con đường đất đỏ trơn trượt năm xưa được thay thế bằng đường bê tông rắn chắc, cùng sự xuất hiện của những ngôi nhà mái tôn xanh đỏ bên cạnh mái nhà gỗ truyền thống. Dù vậy, cây hoa mận cổ thụ bên mép dốc vẫn sừng sững tỏa hoa trắng, trở thành biểu tượng kết nối quá khứ và hiện tại của vùng đất này. Chuyến trở về của Páo gắn liền với sự ra đi của thầy giáo Lữ, người gắn bó cả đời với sự nghiệp gieo chữ nơi vùng cao. Đám tang diễn ra giản dị tại căn nhà nhỏ cuối bản nhưng thắm thiết tình thầy trò, thu hút đông đảo các thế hệ học sinh từ nhiều nơi trở về tiễn biệt. Những người từng được thầy dạy dỗ giờ đây đã trưởng thành, đảm nhận nhiều vai trò khác nhau trong xã hội từ giáo viên, cán bộ xã cho đến người làm nương rẫy. Ký ức về thầy Lữ hiện lên qua hình ảnh một người thầy tận tụy, nghiêm khắc nhưng giàu tình thương bao la. Từng có ý định bỏ học vì hoàn cảnh gia đình nghèo khó và chiếc dép nhựa đứt quai trong mùa đông rét đậm, Páo đã được thầy nâng đỡ và dìu dắt qua những khó khăn đầu đời. Sự hy sinh thầm lặng của thầy Lữ không chỉ để lại khoảng trống sâu sắc trong lòng người ở lại mà còn khẳng định giá trị bền vững của giáo dục đối với sự thay đổi của bản làng.