Bỏ qua điều hướng
•

Mỹ rút quân khỏi Iraq: Hồi kết sau 23 năm hay khoảng trống quyền lực mới?

Mỹ rút quân khỏi Iraq: Hồi kết sau 23 năm hay khoảng trống quyền lực mới?
Nguồn ảnh: VTC News

Lực lượng Mỹ chính thức hoàn tất việc rút quân khỏi Iraq, khép lại hơn 20 năm hiện diện quân sự kể từ cuộc chiến năm 2003.

Ngày 28/9, Ngoại trưởng Iraq Fawad Hussein cho biết toàn bộ lực lượng Mỹ sẽ rời lãnh thổ Iraq, trong khuôn khổ thỏa thuận rút quân mà Baghdad và Washington đạt được năm 2024. Một quan chức Chính phủ Iraq cũng xác nhận lực lượng tác chiến và hậu cần Mỹ chính thức hoàn tất quá trình rút quân khỏi nước này.

Sự kiện này không chỉ đánh dấu sự kết thúc của một chương dài nhất trong lịch sử can dự quân sự Mỹ tại Trung Đông thế kỷ XXI, mà còn đặt ra câu hỏi lớn về chủ quyền thực sự của Iraq, sự cân bằng quyền lực khu vực và nguy cơ khoảng trống an ninh.

Từ đỉnh điểm gần 170.000 binh sĩ năm 2007 đến chỉ còn vài trăm người trước giờ rút, hành trình này gắn liền với xung đột, nội chiến giáo phái, sự trỗi dậy của tổ chức Nhà nước Hồi giáo (IS) và nỗ lực “Iraq hóa chiến tranh”.

Mỹ rút quân khỏi Iraq, chấm dứt 2 thập kỷ hiện diện quân sự. (Ảnh: AP)

Mỹ rút quân khỏi Iraq, chấm dứt 2 thập kỷ hiện diện quân sự. (Ảnh: AP)

Hai thập kỷ sa lầy của quân đội Mỹ

Ngày 20/3/2003, Mỹ đưa quân vào Iraq để lật đổ Tổng thống Saddam Hussein với khoảng 130.000 - 160.000 binh sĩ. Baghdad nhanh chóng thất thủ nhưng việc giải tán quân đội và bộ máy đảng Baath lại tạo ra khoảng trống quyền lực nghiêm trọng, dẫn đến cuộc nổi loạn có vũ trang và xung đột Sunni - Shia kéo dài nhiều năm.

Đến tháng 1/2007, Tổng thống Mỹ khi đó là George W. Bush công bố chiến lược “surge” (đợt tăng quân) nhằm thay đổi cục diện đang bế tắc và ngăn chặn sự sụp đổ của Iraq do bạo lực giáo phái leo thang. Chiến dịch được đặt tên chính thức là “The New Way Forward” (Hướng đi mới phía trước), đánh dấu bước chuyển dịch chiến thuật quan trọng của quân đội Mỹ tại Iraq.

“Nếu chúng ta tăng cường hỗ trợ vào thời điểm quan trọng này và giúp người Iraq phá vỡ vòng xoáy bạo lực hiện tại, chúng ta có thể đẩy nhanh ngày quân đội của chúng ta bắt đầu trở về nhà”, ông Bush trấn an công chúng trong bài phát biểu giờ vàng tại Nhà Trắng.

Mỹ điều động thêm hơn 20.000 binh sĩ chiến đấu, gồm 5 lữ đoàn sang Iraq. Đỉnh điểm, tổng số quân tăng cường lên đến gần 30.000 người nếu tính cả lực lượng hỗ trợ - nâng tổng số binh lính Mỹ đóng quân tại Iraq lên 160.000 - 170.000 người.

Tuy nhiên, kết quả mà chiến lược “surge” mang đến lại không như mong đợi. Dù thất bại trên hầu hết mọi tiêu chí đặt ra nhưng chiến dịch tăng cường quân sự vẫn được chính quyền và giới truyền thông Mỹ xem như chiến thắng vang dội.

Ông Bush từng nhấn mạnh việc tăng cường quân số nhằm thúc đẩy tiến trình chính trị. “Một chiến lược thành công đối với Iraq không chỉ dừng ở hoạt động quân sự. Mỹ buộc Chính phủ Iraq phải tuân thủ những tiêu chí mà họ công bố”, ông Bush nói. Các tiêu chí này bao gồm xem xét lại hiến pháp, tổ chức bầu cử cấp tỉnh, giải giáp lực lượng dân quân và thực thi luật thu thuế dầu mỏ.

Đến ngày 14/2/2008, Hội đồng Tổng thống Iraq phê chuẩn Hiệp định an ninh Iraq - Mỹ cho phép quân đội Mỹ ở lại nước này đến hết năm 2011, sau khi sứ mệnh do Liên hợp quốc ủy nhiệm kết thúc vào ngày 31/12 cùng năm.

Hiệp định an ninh gồm 31 điều khoản là văn bản hợp pháp hóa sự hiện diện quân sự của Mỹ tại Iraq sau năm 2008, trong đó quy định rõ Chính phủ Iraq sẽ thay Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc kiểm soát mọi hoạt động của lực lượng Mỹ tại nước này.

Cũng theo thỏa thuận, binh sĩ Mỹ bắt đầu rút dần khỏi thành phố của Iraq từ tháng 6/2009 và rút toàn bộ khỏi hơn 400 căn cứ quân sự ở quốc gia vùng Vịnh vào cuối 2011. Nhà chức trách Iraq có quyền khám xét hàng hóa quân sự Mỹ, cũng như thẩm vấn binh sĩ Mỹ bị cáo buộc phạm tội ác khi ở ngoài căn cứ và không thực thi nhiệm vụ.

Quân nhân Mỹ chuẩn bị trực thăng Apache tại căn cứ Erbil, phía bắc Iraq. (Ảnh: US Army)

Quân nhân Mỹ chuẩn bị trực thăng Apache tại căn cứ Erbil, phía bắc Iraq. (Ảnh: US Army)

Dưới thời cựu Tổng thống Barack Obama, quá trình rút quân diễn ra nhanh chóng. Tháng 8/2010, nhiệm vụ chiến đấu chính thức kết thúc. Ngày 18/12/2011, binh sĩ Mỹ rời Iraq, kết thúc gần 9 năm với hơn 4.400 binh sĩ Mỹ thiệt mạng. Tuy nhiên, sự rút lui này để lại hệ quả nặng nề: Lực lượng an ninh Iraq suy yếu, chính phủ bị cáo buộc thiên vị Shia, tạo điều kiện cho IS kiểm soát khoảng 1/3 lãnh thổ năm 2014.

Tháng 6/2014, Iraq kêu gọi hỗ trợ quốc tế. Sau đó, Mỹ quay lại trong khuôn khổ chiến dịch có tên là “Operation Inherent Resolve” (tạm dịch là Chiến dịch Nhổ tận gốc), áp dụng đối với tất cả hoạt động quân sự của Mỹ chống lại IS khi các cuộc không kích đầu tiên diễn ra ở Iraq.

Theo Bộ Tư lệnh Trung ương Mỹ, cái tên này phản ánh “sự quyết tâm không thể lay chuyển và cam kết vững chắc của Mỹ cũng như các nước đồng minh” nhằm xóa sổ IS ở Trung Đông và trên toàn thế giới.

Đến giai đoạn 2017 - 2019, số lượng binh sĩ tăng dần lên khoảng 5.000 - 5.200 người. Tuy nhiên, kể từ thất bại quân sự năm 2017, IS không thể giữ vững lãnh thổ, tiếp tục cuộc nổi dậy với những cuộc tấn công quy mô nhỏ, thường xuyên gây thương vong cho binh lính và thường dân Iraq ở vùng núi, sa mạc hẻo lánh.

Thế giới bước sang năm 2020 với nhiều sự kiện đầy bất an. Ngày 3/1/2020, Bộ Quốc phòng Mỹ xác nhận Tổng thống Donald Trump ra lệnh không kích một địa điểm gần sân bay quốc tế Baghdad (Iraq), giết chết Tư lệnh lực lượng đặc nhiệm Quds thuộc Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran (IRGC).

Cái chết của tướng Qasem Soleimani được đánh giá mang “sức nặng ngàn cân”, có khả năng gây ra những hệ lụy không thể lường trước đối với khu vực Trung Đông và cả thế giới.

Đến cuối 2021, Mỹ tuyên bố kết thúc vai trò chiến đấu, duy trì khoảng 2.500 binh sĩ. “Khi hoàn thành vai trò chiến đấu, chúng tôi sẽ ở lại đây để cố vấn, hỗ trợ và tạo điều kiện cho lực lượng an ninh Iraq theo lời mời của nước này”, chỉ huy lực lượng liên quân, Thiếu tướng John W. Brennan Jr tuyên bố vào thời điểm đó.

Cuối cùng vào tháng 9/2024, Iraq và Mỹ công bố kế hoạch chấm dứt chiến dịch quân sự của liên minh quốc tế chống khủng bố, do Mỹ dẫn đầu tại Iraq và dần chuyển sang quan hệ an ninh song phương. Theo kế hoạch, giai đoạn đầu của nhiệm vụ kết thúc vào tháng 9/2025, trong khi lực lượng liên quân vẫn đóng tại khu vực Kurdistan để hỗ trợ các hoạt động chống khủng bố ở Syria và giai đoạn cuối cùng ​​kết thúc vào tháng 9/2026.

Lý do Mỹ rút quân khỏi Iraq?

Tháng 9/2024, sau nhiều tháng đàm phán thông qua Ủy ban quân sự cấp cao chung, Mỹ và Iraq công bố quá trình chuyển giao 2 giai đoạn.

Theo kế hoạch, liên minh do Mỹ dẫn đầu sẽ kết thúc nhiệm vụ quân sự tại Iraq vào tháng 9/2025. Giai đoạn thứ 2 cho phép liên minh tiếp tục hỗ trợ hoạt động chống IS ở Đông Bắc Syria từ các căn cứ tại Iraq cho đến tháng 9/2026. Mọi thứ được cho là tùy thuộc vào điều kiện thực tế và cuộc tham vấn giữa Washington, Baghdad cùng đối tác trong liên minh.

Thời điểm đó, quan chức quốc phòng Mỹ cho biết sự thay đổi này nhằm mục đích chuyển mối quan hệ từ nhiệm vụ đa quốc gia chống IS sang hợp tác an ninh song phương lâu dài hơn với Iraq.

Việc rút quân tiếp tục diễn ra trong suốt năm 2025 và 2026. Lực lượng Mỹ rời căn cứ không quân Al-Asad ở tỉnh Anbar. Trong khi những hoạt động khác tập trung xung quanh thành phố Erbil và thủ đô Baghdad, trước khi sự hiện diện còn lại của liên quân giảm bớt hơn nữa.

Báo cáo của Tổng thanh tra Bộ Quốc phòng Mỹ tiết lộ Washington và Baghdad cũng đang thảo luận về việc lực lượng Mỹ có thể tiếp tục cố vấn và hỗ trợ lực lượng an ninh Iraq với quy mô giảm bớt trong mối quan hệ song phương trong tương lai.

Trong khi đó, ở lần rút quân vào tháng 9, quan chức Mỹ nêu lý do: Mỹ, Iraq và các đối tác trong liên quân đã đạt được thành công to lớn trong việc đánh bại IS và giờ đây các lực lượng an ninh Iraq, bao gồm Peshmerga và lực lượng an ninh khác của khu vực Kurdistan thuộc Iraq, sẽ dẫn dắt cuộc chiến chống khủng bố tại Iraq.

Việc Mỹ rút quân được các nhóm vũ trang thân Iran coi là một thắng lợi trước Washington. Tuy nhiên, nhiều quan chức an ninh và chuyên gia Iraq cảnh báo việc chấm dứt sự hiện diện của liên minh do Mỹ dẫn đầu có thể tạo ra khoảng trống an ninh, làm gia tăng ảnh hưởng của Tehran.

“Iran sẽ được hưởng lợi về mặt chiến lược từ việc liên minh rút lui, vì điều đó loại bỏ sự hiện diện quân sự vốn có trong nhiều năm qua, đóng vai trò đối trọng với ảnh hưởng của Tehran ở Iraq”, chuyên gia an ninh Iraq nghiên cứu các nhóm vũ trang Hồi giáo dòng Shi’ite thân Iran, ông Jasim al-Bahadli nhấn mạnh.

Ông Abdulrahman al-Zobaie, một thủ lĩnh bộ lạc dòng Sunni ở Fallujah cho rằng người Iraq mong muốn hoàn toàn làm chủ vấn đề an ninh nhưng cảnh báo việc Mỹ rút quân có thể tạo ra khoảng trống. Ông nhận định, Iraq “vẫn chưa hoàn toàn sẵn sàng tiếp quản hồ sơ an ninh vào thời điểm này”.

“Chúng tôi tin Iraq vẫn chưa hoàn toàn sẵn sàng tiếp quản vấn đề an ninh. Tất cả người Iraq đều khao khát chủ quyền hoàn toàn và không người Iraq nào phủ nhận điều đó. Nhưng tôi tin việc liên minh do Mỹ dẫn đầu rút lui theo cách này và tạo ra khoảng trống quyền lực là điều mà tất cả người Iraq đều lo sợ”, ông al-Zobaie nói.

Một mối lo ngại khác còn nằm ở việc sau khi liên minh do Mỹ dẫn đầu rút khỏi Iraq, có khả năng IS tận dụng giai đoạn chuyển tiếp để khôi phục hoạt động. IS từng kiểm soát khoảng 1/3 lãnh thổ Iraq và sát hại hàng nghìn người. Sau khi IS bị đánh bại vào năm 2017, tổ chức này vẫn duy trì mạng lưới ngầm có khả năng tiến hành nhiều vụ tấn công.

Minh chứng dễ nhận thấy nhất là vào năm 2011, Mỹ từng rút lực lượng khỏi Iraq, nhưng chưa đầy 3 năm sau phải đưa quân trở lại khi IS giành quyền kiểm soát nhiều khu vực rộng lớn tại Iraq và Syria. Sau đó, lực lượng Mỹ hỗ trợ quân đội Iraq và lực lượng người Kurd đánh bại IS, xóa bỏ vùng lãnh thổ mà tổ chức này kiểm soát.

Ngày 28/9, Ngoại trưởng Iraq Fawad Hussein xác nhận toàn bộ lực lượng Mỹ sẽ rời khỏi nước này theo thỏa thuận đạt được năm 2024. Một quan chức Chính phủ Iraq cũng khẳng định lực lượng tác chiến và hậu cần Mỹ đã chính thức hoàn tất quá trình rút quân. Sự kiện này khép lại hơn hai thập kỷ hiện diện quân sự của Mỹ tại Trung Đông kể từ năm 2003, đồng thời mở ra những câu hỏi lớn về chủ quyền thực sự cũng như nguy cơ xuất hiện khoảng trống an ninh tại quốc gia này. Chiến dịch can thiệp của Mỹ bắt đầu vào ngày 20/3/2003 nhằm lật đổ Tổng thống Saddam Hussein với quy mô từ 130.000 đến 160.000 binh sĩ. Mặc dù chính quyền Baghdad nhanh chóng sụp đổ, quyết định giải tán quân đội và bộ máy đảng Baath đã gây ra bạo lực giáo phái nghiêm trọng giữa hai dòng Sunni và Shia. Đến tháng 1/2007, Tổng thống George W. Bush công bố chiến lược tăng quân có tên "The New Way Forward", điều động thêm hơn 20.000 quân chiến đấu nhằm ổn định tình hình chính trị và an ninh. Tại thời điểm đỉnh điểm của đợt tăng viện, tổng quân số Mỹ ở Iraq đã leo thang lên mức 160.000 đến 170.000 binh sĩ. Dù được giới truyền thông Mỹ miêu tả là thành công, chiến dịch tăng quân này về bản chất vẫn không đạt được hầu hết các tiêu chí mục tiêu ban đầu. Đến ngày 14/2/2008, Hội đồng Tổng thống Iraq mới chính thức phê chuẩn Hiệp định an ninh Iraq - Mỹ gồm 31 điều khoản, cho phép quân đội Mỹ kéo dài sự hiện diện hợp pháp tại đây cho đến hết năm 2011.