Thành khá vui với việc ấy. Thiên hạ chạy chợ lo đầu vào đầu ra, cậu chạy chợ tìm góc đứng, đợi ánh sáng. Cũng tất bật, cũng có đồng ra đồng vào. Thành sống khỏe nhờ công việc ấy.
Chợ Hà Nội thì lắm thanh sắc. Con cá quẫy trong chậu, nước bắn vào gấu quần người đứng cạnh. Bà hàng rau vẩy nắm nước, tiện tay vuốt lại mấy mớ cải. Một tiếng “chân, chân!” thất thanh, người chưa kịp né thì xe hàng đã lách qua. Dưới mái bạt, hai bà mặc cả nghe như sắp từ mặt nhau. Người mua bỏ đi, người bán gọi với, giọng vẫn còn hờn dỗi. Thế rồi tiền trao, rau buộc, lại ôn tồn hỏi thăm chuyện con cái.
Khách của Thành nhìn sắc thái cuộc mặc cả ấy mà không thể hiểu nổi. Thành cũng chẳng tiện dịch nguyên các cuộc thoại. Vì ở chợ, có những từ được thốt lên làm người bản xứ cũng phải đỏ mặt.
Thành thuộc nhịp chợ. Cậu biết khi nào nắng lọt qua mái che, lúc nào nên nán lại. Một bàn tay đang buộc hàng, một gương mặt ngẩng lên giữa tiếng mời chào. Công phu của người dẫn khách nằm trong những việc nhỏ ấy. Chợ chẳng đứng yên đợi ai vừa bố cục. Người bán còn phải bán, người mua còn vội về, vừa thấy một khuôn hình thì chiếc xe chở hàng đã chen ngang.
Cậu không thích chiều những hình dung có sẵn về Việt Nam. Nào là phải có dấu tích chiến tranh. Nào là phải phảng phất vẻ huyền bí Á Đông như trên truyền hình. Khách đôi khi mang theo cả một xứ sở tưởng tượng. Họ bay nửa vòng trái đất, đến nơi chỉ việc tìm cho khớp rồi mang đống ảnh về.
Chiều theo cũng dễ. Nhưng Thành còn Hà Nội của mình, cả nhếch nhác, lộn xộn lẫn duyên thầm sắc ẩn. Cậu muốn khách thấy phần ấy, dù khó khăn hơn. Tour vẫn năm sao đều. Có người viết sau chuyến đi là họ đã chạm vào linh hồn xứ sở. Không hiểu họ chạm vào khúc nào, có thể ở khúc hai bà phút trước mặc cả căng thẳng, phút sau ôn tồn nói chuyện.
Tôi nghĩ Thành thuộc về lớp người lấy sự am hiểu bản địa làm sinh kế một cách giàu tự tôn. Cậu chẳng một mình. Bên cạnh cậu còn là những người dẫn khách đi chơi ở khu tập thể cũ, người dạy khách nấu món nhà, người đưa khách về làng nghề… Họ biết một nếp sống từ bên trong, rồi dụng công tìm cách giới thiệu nó với người ngoài. Vốn liếng tưởng sẵn có, nhưng muốn thành nghề, kiếm sống được cũng phải nghiền ngẫm, phải trau dồi.
Những người ấy khiến câu cửa miệng “quê mình có gì đâu” có khi cũng phải xem lại. Hóa ra, “quê mình” có nhiều thứ hay ho ra phết! Chúng ẩn tàng ngay trong những sinh hoạt thường ngày. Chẳng những hay ho, những thứ lặt vặt ấy, nếu biết nhìn, biết làm, kiếm sống tốt là khác.
PHẠM MỸ