Bỏ qua điều hướng
•

Người ở nông trường, người ra biên giới vùng biên Tây Nam (kỳ 1)

Người ở nông trường, người ra biên giới vùng biên Tây Nam (kỳ 1)
Nguồn ảnh: Nhân Dân

Tuyến biên giới phía Tây Nam tiếp giáp giữa Việt Nam và Campuchia giữ vị trí chiến lược đặc biệt trọng yếu đối với quốc phòng, an ninh quốc gia. Thế nhưng do yếu tố lịch sử cùng điều kiện địa hình phức tạp, nhiều đoạn biên giới dài trong nhiều năm gần như vắng bóng người dân sinh sống ổn định. Đầu t...

Kỳ 1: Làng kề biên giới

Đã từng có một thời, phong trào “từ nông lâm trường ra biên giới” trở thành một khẩu hiệu kêu gọi hàng vạn thanh niên đồng bằng lên các vùng biên xây dựng kinh tế mới. Từ những thế hệ đi đầu, đến bây giờ đã có nhiều thế hệ. Họ vẫn truyền động lực cho nhau, tiếp tục đến với những vùng biên giới xa xôi để xây tiếp những ngôi làng.

Ông Phạm Hữu Phụ (Trưởng thôn Đoàn Kết, xã Thiện Hưng, TP Đồng Nai) vừa rót chén trà, vừa bảo: “Tôi quê gốc Đông Phương, Thái Bình đây” (xã Đông Phương, huyện Đông Hưng, Thái Bình cũ, nay là xã Bắc Đông Hưng, Hưng Yên - PV). Anh Thượng úy biên phòng Lê Sỹ Vũ, Đội trưởng Đội vận động quần chúng Đồn Biên phòng Thanh Hòa (Bộ Chỉ huy Quân sự TP Đồng Nai) mắt đã lấp lánh: “Cháu cũng người Đông Phương”.

Suốt buổi, hai bác cháu kể chuyện, hỏi han, hóa ra dù thuộc hai thế hệ, nhưng họ lại có rất nhiều mối liên hệ.

Khu dân cư biên giới, toàn người tứ xứ, may mắn có một đồng hương, không hẹn mà gặp, cùng chung một mảnh đất sát biên, gọi đó là nhà.

9 lần chuyển nhà để an cư

Những năm 90 thế kỷ trước, cả làng ông Phạm Hữu Phụ khăn gói vào nam trên cùng một chuyến xe để tìm sinh kế mới. Đó là cuộc đại di cư lần thứ nhất của ông: “Người ta tứ tán khắp nơi, mỗi tôi thế nào đi lạc ra biên giới”. Chẳng biết có phải cái chất lính từ những ngày cầm súng không, nhưng người cựu chiến binh chọn lập nghiệp ở cái vị trí xa xôi cách trở nhất. Suốt những năm tháng đó, ông cùng gia đình rong ruổi, chỉ cần thấy chỗ nào sống được là họ sẽ đến.

Hơn 20 năm, qua 8 lần chuyển nhà, ông đã tưởng mình sẽ yên ổn ở một làng tại huyện Bù Đốp (cũ). Nhưng tới khi các con khôn lớn, dựng vợ gả chồng xong, mọi chuyện đổi khác: “Con cái ra ở riêng, nhìn lại thấy tài sản tích luỹ hai vợ chồng chẳng còn lại bao nhiêu”.

Lại một lần nữa, khi có chính sách xây dựng khu dân cư điểm biên giới, ông bàn với cả nhà, khăn gói đến vùng đất mới ở tuổi gần 70. Hai vợ chồng bán hết số tài sản còn lại, cùng người con trai út đến làng sát biên - khu dân cư số 10 bây giờ, nhận ngôi nhà mới. Người ta tuổi già tìm chỗ dựa thường về quê, ông bà lại một lần di cư.

Xã Thiện Hưng có phía bắc giáp nước bạn Campuchia với đoạn đường biên giới dài gần 17 km. Khu dân cư mới kết nối thẳng ra đường vành đai biên giới.

Theo chính sách Đề án 811, gia đình ông được hỗ trợ một căn nhà khoảng 80 m2. “Chỉ cần cầm chìa khóa mở cửa, vặn vòi có nước, bật công-tắc có điện, còn mong gì hơn nữa”, ông Phụ lý giải cho lần di cư thứ 9.

Ấy là nghe thoải mái vậy, nhưng thời điểm đó, biên giới là một dải hoang vu với cây cỏ dại và mấy vạt rừng rờn rợn. Ngoài một con đường bê-tông, cùng mấy mái nhà, thì hạ tầng chưa có gì. Không có điện lưới, mấy hộ gia đình phải chia từng chút dầu để chạy máy thắp sáng bóng đèn, nhường nhau lấy từng thùng nước. Suốt một năm như thế, cũng có người nản mà bỏ về. Người ta không tin nơi ấy có thể an cư. Nhưng ông Phụ thì khác. Bao nhiêu năm di cư, chuyển nhà đã quen, ông chẳng lạ gì những ngày đầu gian khó.

Tới năm 2020, làng mới có giếng khoan, điện lưới. Đường vào bớt vắng, người về đây cũng nhiều lên. Ông Phụ mở một góc nhỏ vá xe tại nhà kiếm thêm thu nhập, người con út đi làm công nhân nông trường gần đó. Sau gần trọn một đời bôn ba qua nhiều vùng đất, ông Phụ nói đây sẽ là quê hương cuối cùng của cuộc đời mình, ông không đi đâu nữa.

Ông nhớ cái Tết năm đầu có điện, tối mồng 1, ông làm trưởng đoàn, dẫn một nhóm bà con trong khu đi chúc Tết từng nhà. Cứ tới chúc Tết xong nhà nào, gia chủ nhà đó lại nhập đoàn để đi sang nhà khác. Một lúc thì “cả một dây”, ông Phụ tả. Bây giờ Tết hằng năm, khu dân cư này đều có lệ chúc Tết như vậy. Cái “dây người” mỗi ngày một dài ra, tiếng cười nhiều hơn, họ lên cả Đồn Biên phòng, đến cả các chốt gác biên giới để mừng năm mới.

Khu vực do Đồn Biên phòng Thanh Hòa quản lý đến nay đã hình thành 2 khu dân cư liền kề với tổng cộng 106 căn nhà với 381 nhân khẩu. Lúc ông Phụ gặp Thượng úy Vũ, giữa câu chuyện về quê Đông Phương, họ nói về tương lai, về những con đường mới vào khu dân cư. Làng vùng biên không thể tự do thoải mái như nơi khác, “Mọi hoạt động của các hộ gia đình đều phải theo quy định chung để cùng lực lượng biên phòng giữ gìn an ninh-trật tự”, ông Phụ nói. Khu dân cư của ông Phụ giờ đã là thôn Đoàn Kết, đã hoàn thiện đường giao thông nông thôn nối liền với đường vành đai biên giới. Các hộ dân được hỗ trợ con giống và tạo việc làm.

Ông Phụ bảo, trước đây ở mấy chỗ cũ, đất rừng mạnh ai nấy sống, nhà cách xa nhau. Còn khi ra khu dân cư biên giới thì dân tứ xứ, nhưng nhà gần nhau: “Mọi người đều đoàn kết, lần nào họp tôi cũng nhắc, mà bà con cũng nhất trí gọi nhau là người một nhà”.

Những người mở đường

TP Đồng Nai là thành phố trực thuộc trung ương có đường biên giới trên bộ dài nhất nước. Tuyến biên giới Đồng Nai dài hơn 260 km, tiếp giáp 3 tỉnh của nước bạn Campuchia. Nói chuyện lập làng biên giới từ những ngày đầu, thậm chí trước cả khi có những chính sách lập làng, thì những “cây đa cây đề” như ông Phụ đóng vai trò vô cùng quan trọng. Thượng úy Lê Sỹ Vũ cảm thán, “Không có các bác ấy sao thành được làng”.

Ông Nguyễn Thành Cừ (Ấp trưởng ấp 3, xã Thiện Hưng) mô tả cuộc sống của những làng sát biên là một Việt Nam thu nhỏ. “Cả nước có 64 tỉnh, thành phố (trước sáp nhập) thì ở mấy khu biên giới là phải hơn 50 tỉnh”. Ông Cừ tìm đến biên giới những năm 2000, như ông kể: “Ở quê cũ đất chật người đông, thiên tai khắc nghiệt”. Quê mới thoạt đầu ngoài việc nhiều đất hơn, thì khắc nghiệt chẳng kém: “Đường sá lầy lội cách trở. Đến cả đồn biên phòng (Đồn Thanh Hòa bây giờ) lúc đó cũng chưa khang trang như giờ, anh em còn phải ở tạm chốt dân quân”. Phải vài năm sau, Binh đoàn 16 (Trung đoàn 717) về đầu tư hạ tầng, mở đường và đưa các hộ di dân kinh tế vào lập nghiệp, làng mới dần có sự nhộn nhịp. Ông Cừ là một trong những người tiên phong vận động gia đình, dòng họ và bà con trong ấp cùng chung sức làm đường giao thông để con em có đường đến trường và kết nối giao thương với bên ngoài.

Ông Vũ Khắc Tăng (Bí thư Chi bộ ấp 4, xã Hưng Phước) cũng từng xung phong đi đầu trong những năm tháng sôi động từ nông trường ra biên giới những năm 80 thế kỷ trước. Lúc ấy, thứ đầu tiên tưởng quật ngã ông chính là sốt rét: “Cứ ngồi không làm gì nó cũng sốt”. Thế nhưng ông ở lại hẳn. Năm 1999, ông xin nghỉ giải quyết chế độ một lần để tập trung làm vườn và tham gia công tác địa phương. Lúc đó, vùng biên giới còn rất hẻo lánh, lực lượng bộ đội và cán bộ phải cắm chốt ở nhiều nơi. Công tác tuyên truyền người dân chấp hành quy chế biên giới gặp nhiều thách thức.

Ông Tăng hiểu phải làm cho bà con tin để giữ làng, mới có thể ổn định. Mà bà con thời gian đầu chưa dễ dàng hưởng ứng ngay mấy khẩu hiệu tuyên truyền. Bà Sen, vợ ông Tăng kể, lúc đó bà phải đến tận từng hộ gia đình để ngồi tâm sự, hỏi thăm hoàn cảnh. Có khi cả buổi sáng, bà cũng chỉ đến được 2-3 nhà: “Phải dành thời gian tỉ tê, lắng nghe tâm tư từng người”.

Thời điểm đó, nhiều gia đình hoàn cảnh rất khó khăn, con cái nheo nhóc. Có lúc nói chuyện xong, vợ chồng ông Tăng còn trích tiền túi hỗ trợ các cháu nhỏ. Đến năm 2008, khi thành lập Câu lạc bộ “Điểm sáng biên giới”, sự phối hợp giữa người dân và Đồn Biên phòng Hoàng Diệu càng trở nên chặt chẽ và thường xuyên hơn thông qua các hoạt động tuần tra, phát quang đường biên và thực hiện các công trình dân sinh. Rồi cứ từ đó, ngôi làng vùng biên dần ổn định.

“Trong những ngày gian nguy ấy

Biết bao nhiêu những câu chuyện đời” (Trịnh Công Sơn)

Những câu chuyện vùng biên, bắt đầu như thế từ những con người mở đường như ông Phụ, ông Tăng, ông Cừ...

Năm 2019, Đề án 811 xây dựng thí điểm 7 điểm dân cư với 35 căn nhà cấp 4 tại các vị trí chiến lược thuộc 3 tỉnh biên giới Tây Ninh, Long An (hiện giờ là tỉnh Tây Ninh) và Bình Phước (hiện là TP Đồng Nai). Đến năm 2020-2022, Quân khu tiếp tục hỗ trợ xây dựng thêm 27 điểm với 135 căn nhà. Đến cuối giai đoạn này, toàn Quân khu đã hoàn thành 43 điểm với 411 căn nhà, tổng kinh phí hơn 127 tỷ đồng.

Năm 2023-2025, Quân khu 7 đã hoàn thành, khánh thành và bàn giao tổng cộng 879 căn nhà tại 60 điểm dân cư biên giới (trong đó có 729 căn liền kề chốt dân quân và 150 căn liền kề đồn, trạm biên phòng). Đồng thời, 68/72 chốt dân quân thường trực trên tuyến biên giới đất liền đã được kiên cố hóa vững chắc.

Định hướng giai đoạn 2026-2030, Quân khu 7 sẽ tiếp tục phối hợp xây dựng mới các điểm dân cư, mở rộng mô hình lên địa bàn tỉnh Lâm Đồng (dự kiến thêm 1 điểm dân cư và 2 chốt dân quân).

(Còn nữa)

Hồng Việt

Tuyến biên giới phía Tây Nam tiếp giáp giữa Việt Nam và Campuchia giữ vị trí chiến lược đặc biệt trọng yếu đối với quốc phòng và an ninh quốc gia. Nhằm khắc phục tình trạng vắng bóng cư dân do yếu tố lịch sử và địa hình phức tạp, chính sách xây dựng các khu dân cư điểm biên giới theo Đề án 811 đã được triển khai hiệu quả. Tại xã Thiện Hưng, nơi có đường biên giới dài gần 17 km giáp nước bạn Campuchia, những hạ tầng căn bản như nhà ở rộng khoảng 80 m2 đã tạo tiền đề quan trọng cho người dân an định cuộc sống. Tiêu biểu cho hành trình từ nông trường ra biên giới là cựu chiến binh Phạm Hữu Phụ, Trưởng thôn Đoàn Kết, người quê gốc tại xã Đông Phương, Thái Bình. Sau hơn 20 năm rong ruổi tìm sinh kế và trải qua 8 lần chuyển nhà qua nhiều vùng đất như huyện Bù Đốp cũ, ông Phụ đã quyết định thực hiện lần di cư thứ 9 ở tuổi gần 70 để đến khu dân cư số 10 sát biên giới. Sự đồng hành của thế hệ trẻ như Thượng úy Lê Sỹ Vũ, Đội trưởng Đội vận động quần chúng Đồn Biên phòng Thanh Hòa, đã tiếp thêm động lực cho các gia đình tứ xứ cùng coi vùng đất gian khó này là nhà. Những ngày đầu thành lập, khu vực biên giới Thiện Hưng chỉ là dải đất hoang vu thiếu thốn điện lưới và nước sạch, khiến một số hộ dân không chịu nổi gian khổ mà bỏ về. Tuy nhiên, bằng bản lĩnh của người lính và kinh nghiệm di cư dày dạn, gia đình ông Phụ cùng các hộ dân kiên trì chia nhau từng thùng nước và nhiên liệu chạy máy phát điện. Đến năm 2020, sự xuất hiện của hệ thống điện lưới và giếng khoan đã chính thức đánh dấu bước ngoặt ổn định hạ tầng cho làng biên giới mới. Việc hình thành các khu dân cư ven đường vành đai biên giới không chỉ giải quyết bài toán sinh kế cho người dân di cư mà còn củng cố vững chắc thế trận an ninh nhân dân. Hành trình kiên trì bám đất của nhiều thế hệ người dân là minh chứng sinh động cho sức sống mới đang hồi sinh trên tuyến biên giới Tây Nam.