Bỏ qua điều hướng
•

Người thầy Bách khoa góp sức phá bom từ trường, đào tạo vật lý hạt nhân ở Angola

Người thầy Bách khoa góp sức phá bom từ trường, đào tạo vật lý hạt nhân ở Angola
Nguồn ảnh: Tuổi Trẻ

Hơn ba thập kỷ gắn bó với Đại học Bách khoa Hà Nội, giáo sư Nguyễn Nguyên Phong thuộc thế hệ những nhà giáo, nhà khoa học góp phần đặt nền móng cho đào tạo vật lý hạt nhân nước nhà.

- Ảnh 1.

Giáo sư Nguyễn Nguyên Phong về thăm Đại học Bách khoa Hà Nội sáng 9-10 - Ảnh: NGUYÊN BẢO

Tại triển lãm thành tựu khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo chào mừng 70 năm thành lập Đại học Bách khoa Hà Nội, công trình nghiên cứu "Giải pháp rà phá thủy lôi và bom từ trường" được trưng bày.

Theo nhà trường, đây là một trong những công trình tiêu biểu gắn với những giai đoạn quan trọng của đất nước, cho thấy khoa học Bách khoa Hà Nội đã trực tiếp góp sức giải quyết các bài toán cấp thiết trong thời chiến.

Thầy giáo Bách khoa 19 tuổi góp sức tìm cách rà phá bom từ trường

Trở về Đại học Bách khoa Hà Nội dịp kỷ niệm 70 năm thành lập trường, GS.TS Nguyễn Nguyên Phong, 88 tuổi, cựu giảng viên của trường, nhớ lại hành trình 38 năm giảng dạy, nghiên cứu và những năm tháng tham gia tìm cách rà phá thủy lôi, bom từ trường trong chiến tranh.

Năm 1957, ông được cử về giảng dạy tại Đại học Bách khoa Hà Nội khi trường mới thành lập được một năm. Ở tuổi 19, ông là một trong những giảng viên trẻ nhất, thuộc thế hệ cán bộ, giảng viên vật lý đầu tiên của trường.

Giai đoạn 1961-1963, ông được cử sang Liên Xô thực tập, sau đó làm cộng tác viên khoa học tại Viện Liên hiệp nghiên cứu hạt nhân Dubna từ năm 1966 đến 1970. Trở về nước năm 1970, ông mang theo những kiến thức tiên tiến để góp phần xây dựng bộ môn kỹ thuật hạt nhân tại Đại học Bách khoa Hà Nội.

Người thầy Bách khoa góp sức phá bom từ trường, đào tạo vật lý hạt nhân ở Angola - Ảnh 1.

GS Nguyễn Nguyên Phong (hàng hai, thứ hai từ trái sang) và các đồng nghiệp Đại học Bách khoa Hà Nội năm xưa - Ảnh: Đại học Bách khoa Hà Nội (sưu tầm)

Mùa xuân năm 1972, Mỹ đẩy mạnh chiến tranh phá hoại miền Bắc, rải bom từ trường trên tuyến đường Trường Sơn, đồng thời phong tỏa cảng Hải Phòng bằng thủy lôi và bom từ trường. Đây là những loại vũ khí được Mỹ quảng bá là thông minh, khó có thể rà phá.

"Đã có nhiều bom từ trường được phá hủy, nhưng vì chưa nắm được cơ bản quy luật hoạt động của thủy lôi và bom từ trường nên cũng đã có những người làm nhiệm vụ hy sinh. Có người bạn của tôi hôm trước còn bàn cách rà phá, hôm sau đã hy sinh vì bom nổ. Tìm mãi chỉ còn thấy hai chiếc răng", ông Phong kể.

Những mất mát ấy càng cho thấy tính cấp thiết của nhiệm vụ nghiên cứu. Trong bối cảnh đó, Đảng và Nhà nước huy động các nhà khoa học tìm cách rà phá thủy lôi từ tính và bom từ trường.

- Ảnh 3.

Xác bom từ trường trưng bày tại nhà truyền thống Đại học Bách khoa Hà Nội - Ảnh: NGUYÊN BẢO

Cuối tháng 5-1972, tổ nghiên cứu đặc nhiệm GK1 được thành lập tại Đại học Bách khoa Hà Nội, do GS.TSKH Vũ Đình Cự phụ trách. Tổ có nhiệm vụ nghiên cứu nguyên lý hoạt động, tìm giải pháp vô hiệu hóa các loại vũ khí này. Quá trình nghiên cứu có sự phối hợp của Bộ Giao thông vận tải, Trung tâm máy tính điện tử thuộc Ủy ban Khoa học kỹ thuật Nhà nước, cùng thiết bị do Liên Xô viện trợ.

Là một trong sáu thành viên của tổ, ông Phong cho biết công trình được nghiên cứu tại nhà A của Đại học Bách khoa Hà Nội. Nhóm làm việc trong bí mật, mang mật danh GK, trong đó G là giao thông, K là Bách khoa.

TIN LIÊN QUAN

Ông nhớ lại những ngày nghiên cứu đầy gian khó. Có thành viên ba đêm liền không ngủ, muỗi đốt kín chân tay. Dù vậy, cả tổ vẫn làm việc nghiêm túc, kiên trì tìm hiểu đến cùng, với mục tiêu bảo vệ tính mạng con người và tài sản của Nhà nước.

Việc xác định cơ chế nhận diện mục tiêu của thủy lôi và bom từ trường giúp nhóm GK1 thiết kế, chế tạo nhiều loại khí tài kích nổ bom từ xa, gây nhiễu bom từ trường và các thiết bị phục vụ rà phá.

Dịp Quốc khánh 2-9-1996, đề tài "Phá thủy lôi từ tính và bom từ trường" của nhóm được Đảng và Nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt đầu tiên.

Nhóm tác giả gồm cố GS.TSKH Vũ Đình Cự - chủ trì đề tài; PGS.TS Nguyễn Xuân Chánh, PGS.TS Nguyễn Nguyên Phong, kỹ sư Lương Tất Tố cùng các cán bộ khác.

- Ảnh 4.

Hình ảnh trưng bày tại nhà truyền thống Đại học Bách khoa Hà Nội - Ảnh: NGUYÊN BẢO

Từ kiểm tra nhà máy điện đến khôi phục lò phản ứng Đà Lạt

Giai đoạn 1970-1976, ông Phong cùng nhóm chuyên gia bộ môn kỹ thuật hạt nhân và vật lý môi trường, Đại học Bách khoa Hà Nội, là những người đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu, ứng dụng kỹ thuật kiểm tra không phá hủy (NDT) bằng bức xạ gamma và tia X.

Khi các nhà máy nhiệt điện miền Bắc liên tục bị bom Mỹ đánh phá, các thầy giáo Bách khoa mang thiết bị NDT đến hiện trường, kiểm tra mối hàn, vết nứt tuốc bin, góp phần bảo đảm nguồn điện không bị gián đoạn.

Công nghệ này sau đó được ứng dụng tại công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, kiểm tra mối hàn đường ống dẫn nước cao áp và trục tuốc bin Nhà máy thủy điện Đa Nhim trong quá trình khẩn trương khôi phục công trình bị hư hại do chiến tranh.

- Ảnh 2.

GS.TS Nguyễn Nguyên Phong - Ảnh: NGUYÊN BẢO

Năm 1976, khi Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam được thành lập, ông Phong được giao làm Trưởng phòng lò phản ứng và điện hạt nhân đầu tiên. Ông cũng là một trong những cán bộ khoa học đầu tiên tham gia khảo sát thực địa lò phản ứng TRIGA-MARK II tại Đà Lạt sau khi tiếp quản từ quân đội.

Công việc khảo sát đặt ra hàng loạt thách thức kỹ thuật. Nước trong lò còn lẫn rác, phóng xạ tại một số điểm cao gấp 1.000 lần mức cho phép, thùng lò bị nghiêng, vành phản xạ graphite lệch tâm...

Phụ trách mảng công nghệ trong nhóm khảo sát, ông Phong cùng các đồng nghiệp lần tìm nguyên nhân và chứng minh mức phóng xạ tăng cao không phải do neutron kích hoạt sắt như thông thường, mà do tạp chất niken và đồng trong hợp kim nhôm làm vỏ lò của Mỹ bị kích hoạt.

- Ảnh 5.

GS Nguyễn Nguyên Phong (thứ hai từ phải sang) và các đồng nghiệp Đại học Bách khoa Hà Nội năm xưa - Ảnh: HUST sưu tầm

Một đóng góp đáng chú ý của ông Phong và các nhà khoa học thời đó là kiên trì đề xuất điều chỉnh phương án khôi phục lò phản ứng, nhằm nâng cao hiệu quả khai thác công trình.

Ban đầu, thỏa thuận giữa Liên Xô và Việt Nam chỉ ghi nội dung Liên Xô giúp Việt Nam khôi phục lò phản ứng Đà Lạt, tức sửa chữa để lò hoạt động trở lại ở công suất cũ 250kW. Nhận thấy công suất này quá nhỏ, trong khi lò nằm xa các trung tâm khoa học, ông Phong cùng đồng nghiệp đề xuất bổ sung nội dung "và mở rộng" vào dự án.

Từ đề xuất này, công trình khôi phục và mở rộng lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt, mã hiệu IVV-9, được phê duyệt. Công suất lò được nâng lên 500kW, đồng thời bổ sung hệ thống thiết bị nghiên cứu hiện đại. Công trình khởi công ngày 15-3-1982, trở thành trung tâm nghiên cứu và sản xuất đồng vị phóng xạ chủ lực của Việt Nam trong nhiều thập kỷ.

Người thầy Bách khoa góp sức phá bom từ trường, đào tạo vật lý hạt nhân ở Angola - Ảnh 2.

GS Nguyễn Nguyên Phong (hàng ghế thứ 3, từ phải sang) và đoàn đại biểu Việt Nam dự Đại hội đồng IAEA tại Vienna, Áo, 1978 - Ảnh: Đại học Bách khoa Hà Nội sưu tầm

Theo Đại học Bách khoa Hà Nội, ông Phong còn tham gia các hoạt động hợp tác quốc tế trong lĩnh vực hạt nhân, góp phần tìm kiếm nguồn lực phục vụ nghiên cứu khoa học khi đất nước vừa bước ra khỏi chiến tranh.

Giai đoạn 1977-1980, ông Phong cùng GS Đinh Ngọc Lân là chuyên gia kỹ thuật tháp tùng các đoàn đại biểu Việt Nam dự Đại hội đồng Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA). 

Với chuyên môn của mình, ông góp phần vận động các dự án viện trợ kỹ thuật cho Việt Nam trong thời kỳ bao cấp khó khăn, như Trung tâm Chiếu xạ Hà Nội, hệ thống phân tích huỳnh quang tia X và máy nhiễu xạ tia X. Những thiết bị, dự án này phục vụ nghiên cứu khoa học và phát triển kinh tế sau chiến tranh.

Đào tạo tiến sĩ vật lý hạt nhân, học trò trở thành bộ trưởng Angola

Giáo sư Nguyễn Nguyên Phong được phong học hàm phó giáo sư năm 1980, nhận danh hiệu Nhà giáo Ưu tú năm 1992. Ông đảm nhiệm vị trí Tổ phó bộ môn vật lý hạt nhân giai đoạn 1970-1995 và Viện phó Viện Vật lý kỹ thuật từ năm 1985 đến 1995.

Ông là người trực tiếp đặt nền móng xây dựng chương trình đào tạo kỹ sư vật lý hạt nhân tại Đại học Bách khoa Hà Nội, giảng dạy môn vật lý neutron và làm Trưởng tiểu ban vật lý hạt nhân tuyển chọn nghiên cứu sinh đi du học.

Sau khi nghỉ hưu năm 1995, ông nhận lời mời của Chính phủ Angola sang làm chuyên gia cao cấp cho Bộ Khoa học và Công nghệ nước này, đồng thời giữ chức giáo sư thực thụ (Titular) tại Đại học Quốc gia Agostinho Neto giai đoạn 1995-2019.

Tại quốc gia châu Phi, ông mang kiến thức và phương pháp đào tạo của Bách khoa Hà Nội góp phần xây dựng ngành đào tạo vật lý hạt nhân ứng dụng, hỗ trợ Angola trở thành thành viên chính thức của Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) và triển khai các dự án ứng dụng bức xạ phục vụ đời sống.

Đáng chú ý, ông trực tiếp hướng dẫn, đào tạo các tiến sĩ vật lý hạt nhân cho Angola. Trong số đó có bà Maria Cândida Pereira Teixeira, người sau này giữ chức Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ trưởng Bộ Giáo dục Angola, và TS Pedro, Giám đốc Cơ quan Pháp quy hạt nhân Angola.

- Ảnh 6.Chuyện về hàng ngàn bó hoa dưới tượng đài Đại học Bách khoa Hà Nội

Mỗi mùa tốt nghiệp, hàng ngàn bó hoa lại được tân cử nhân, kỹ sư Đại học Bách khoa Hà Nội đặt ngay ngắn dưới chân tượng đài 'Cán bộ, sinh viên xếp bút nghiên lên đường bảo vệ Tổ quốc'.

Gắn bó gần bốn thập kỷ với Đại học Bách khoa Hà Nội từ năm 1957, GS.TS Nguyễn Nguyên Phong là một trong những giảng viên vật lý đầu tiên của trường. Sau quá trình thực tập và công tác tại Viện Liên hiệp nghiên cứu hạt nhân Dubna thuộc Liên Xô, ông trở về nước năm 1970 để đặt nền móng xây dựng bộ môn kỹ thuật hạt nhân. Khi đế quốc Mỹ phong tỏa miền Bắc bằng bom từ trường và thủy lôi vào năm 1972, tổ nghiên cứu đặc nhiệm GK1 đã được thành lập tại nhà A của trường dưới sự phụ trách của GS.TSKH Vũ Đình Cự. Là một trong sáu thành viên then chốt của tổ, ông Phong đã cùng các nhà khoa học ngày đêm giải mã quy luật hoạt động của các loại vũ khí tinh vi này. Quá trình nghiên cứu diễn ra trong điều kiện bí mật, có sự phối hợp chặt chẽ giữa Đại học Bách khoa Hà Nội, Bộ Giao thông vận tải và Trung tâm máy tính điện tử. Công trình rà phá thủy lôi và bom từ trường không chỉ minh chứng cho tinh thần xả thân vì Tổ quốc mà còn khẳng định năng lực thực tiễn vượt bậc của khoa học nước nhà thời chiến. Những cống hiến thầm lặng của GS.TS Nguyễn Nguyên Phong và đồng nghiệp đã góp phần quan trọng bảo vệ tuyến chi viện huyết mạch, để lại di sản nghiên cứu quý báu cho các thế hệ sau.
amung