Bỏ qua điều hướng

Nguồn điện linh hoạt trong chuyển dịch năng lượng

Nguồn điện linh hoạt trong chuyển dịch năng lượng
Nguồn ảnh: Nhân Dân

Hiện nay, nguồn năng lượng tái tạo như điện gió, điện mặt trời đang chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong cơ cấu nguồn điện. Mặc dù đây là hướng đi bắt buộc để xanh hóa nền kinh tế, song đặc tính phụ thuộc chặt chẽ vào thời tiết khiến các nguồn này mang tính bất ổn định cao. Thúc đẩy chuyển dịch sang n...

Điều này đặt ra thách thức vô cùng lớn đối với an toàn vận hành lưới điện. Trong bối cảnh đó, các nhà máy tua-bin khí sử dụng khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG) xuất hiện như giải pháp tối ưu cho giai đoạn chuyển tiếp năng lượng.

Các nhà máy nhiệt điện LNG được đánh giá có khả năng điều chỉnh tăng giảm công suất cực kỳ nhanh chóng, giúp bù đắp và hỗ trợ hệ thống điện kịp thời mỗi khi các nguồn năng lượng tái tạo biến động.

Nguồn điện nền linh hoạt cho hệ thống điện quốc gia

Theo Phó Cục trưởng Cục Điện lực (Bộ Công thương) Bùi Quốc Hùng, trong bối cảnh nhu cầu điện tiếp tục tăng cao, yêu cầu về độ tin cậy, ổn định và linh hoạt của hệ thống điện ngày càng lớn, nguồn điện khí LNG được xác định là nguồn điện chuyển tiếp chiến lược trong giai đoạn tới. Nguồn điện này vừa bảo đảm cân đối cung cầu điện năng vừa hỗ trợ tích hợp các nguồn năng lượng tái tạo quy mô lớn, nâng cao độ ổn định, an toàn của hệ thống điện và góp phần thực hiện các cam kết quốc tế của Việt Nam về giảm phát thải khí nhà kính.

Định hướng phát triển điện khí cũng được đặt trong tổng thể chiến lược bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia tại Nghị quyết số 70-NQ/TW ngày 20/8/2025 của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Nghị quyết xác định phát triển đồng bộ, hợp lý và đa dạng hóa các loại hình năng lượng; ưu tiên năng lượng tái tạo, năng lượng mới, năng lượng sạch; đồng thời phát triển điện hạt nhân, điện khí và có lộ trình giảm tỷ trọng điện than.

Đồng thời, tại Quy hoạch điện VIII điều chỉnh đến năm 2030, tổng công suất nhiệt điện LNG cũng đặt mục tiêu đạt 22.524 MW, chiếm khoảng 9,5 12,3% tổng công suất nguồn điện phục vụ nhu cầu trong nước. Quy hoạch cũng định hướng phát triển khoảng 2.000 3.000 MW nguồn điện linh hoạt có khả năng khởi động nhanh, góp phần điều chỉnh phụ tải và duy trì ổn định hệ thống khi tỷ trọng năng lượng tái tạo ngày càng cao.

Theo Thứ trưởng Công thương Nguyễn Sinh Nhật Tân, đến năm 2030 cần phát triển đầy đủ năng lực nhập khẩu LNG theo nhu cầu cấp cho các nguồn điện khí LNG và các nhu cầu khác; hình thành các trung tâm năng lượng tập trung LNG hài hòa giữa các vùng, miền; đồng thời ưu tiên đầu tư hạ tầng phục vụ nhập khẩu, dự trữ và tiêu thụ LNG. Đặc biệt, định hướng hình thành các trung tâm công nghiệp năng lượng quốc gia tích hợp khí, khí hóa lỏng, điện, lọc, hóa dầu và năng lượng tái tạo tại những địa phương có lợi thế đặt ra yêu cầu phát triển đồng bộ chuỗi giá trị LNG.

Tháo gỡ rào cản, khai thông các dự án điện khí LNG

Theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, giai đoạn 2025 2035, cả nước dự kiến có 22 dự án nhiệt điện LNG được xây dựng và đưa vào vận hành. Từ nay đến năm 2030, 15 dự án được định hướng triển khai, đưa vào vận hành thương mại với tổng công suất 22.524 MW. Thực tế triển khai thời gian qua đã ghi nhận bước tiến đáng chú ý khi cụm dự án Nhà máy nhiệt điện LNG Nhơn Trạch 3 và 4 đi vào vận hành thương mại, bổ sung nguồn điện cho hệ thống và nâng cao tính ổn định trong vận hành.

Cần chủ động rà soát, phân loại danh mục các dự án điện khí LNG theo 3 nhóm: nhóm có thể ra quyết định đầu tư cuối cùng (FID) trong vòng 6-18 tháng; nhóm cần bổ sung, hoàn thiện thủ tục; và nhóm đang gặp khó khăn nghiêm trọng, cần có giải pháp xử lý riêng. Trên cơ sở đó, cơ quan quản lý có thể xác định dự án nào cần tháo gỡ thủ tục, dự án nào cần hỗ trợ về cơ chế và dự án nào cần xem xét lại khả năng triển khai.

Tiến sĩ Nguyễn Quốc Thập, Chủ tịch Hội Dầu khí Việt Nam

Tuy nhiên, tiến độ nhiều dự án điện khí LNG vẫn đối mặt không ít khó khăn. Ông Lê Bá Quý, Giám đốc Ban Quản lý Dự án Điện thuộc Tổng công ty Điện lực Dầu khí Việt Nam (PV Power) chỉ ra hai điểm nghẽn hạ tầng lớn là lưới điện truyền tải để giải tỏa công suất và công tác giải phóng mặt bằng đối với hạ tầng dùng chung. Khi công nghệ điện khí về căn bản đã tương đối hoàn thiện và có nhiều lựa chọn trên thị trường quốc tế, vấn đề khó hơn nằm ở cấu trúc kinh tế và khả năng bảo đảm hiệu quả tài chính của dự án. Do LNG là nhiên liệu nhập khẩu hoàn toàn, giá LNG chịu ảnh hưởng mạnh bởi thị trường quốc tế, chi phí vận chuyển, biến động tỷ giá và các yếu tố địa chính trị... Trong khi đó, dự án điện khí lại có vốn đầu tư rất lớn, vòng đời dài và đòi hỏi khả năng thu xếp vốn dài hạn, khiến việc cân đối giữa chi phí nhiên liệu, giá điện và khả năng hoàn vốn trở thành thách thức lớn đối với nhà đầu tư.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Đình Thiên cho rằng lợi nhuận kinh tế là một trong những vấn đề then chốt cần được quan tâm. Quy hoạch năng lượng được tính toán trên tầm nhìn dài hạn 20-30 năm, trong khi nhà đầu tư phải giải bài toán hiệu quả tài chính của từng dự án. Vì vậy, khung pháp lý, nhất là các quy định liên quan Luật Điện lực sửa đổi, cần tạo cơ chế phù hợp để bảo đảm tính khả thi của dự án.

Tiến sĩ Nguyễn Quốc Thập, Chủ tịch Hội Dầu khí Việt Nam đề xuất: Cần chủ động rà soát, phân loại danh mục các dự án điện khí LNG theo 3 nhóm: nhóm có thể ra quyết định đầu tư cuối cùng (FID) trong vòng 6-18 tháng; nhóm cần bổ sung, hoàn thiện thủ tục; và nhóm đang gặp khó khăn nghiêm trọng, cần có giải pháp xử lý riêng. Trên cơ sở đó, cơ quan quản lý có thể xác định dự án nào cần tháo gỡ thủ tục, dự án nào cần hỗ trợ về cơ chế và dự án nào cần xem xét lại khả năng triển khai.

Một trong những giải pháp được gợi ý là mở rộng cơ chế mua bán điện trực tiếp (DPPA) đối với các dự án điện khí LNG. Theo Tiến sĩ Nguyễn Quốc Thập, cơ chế này có thể tạo điều kiện để bên mua và bên bán chủ động thỏa thuận cam kết bao tiêu sản lượng trong thời hạn dài; đồng thời cho phép các bên nghiên cứu phương án đầu tư hoặc thuê hạ tầng truyền tải phù hợp.

Qua đó, một phần rủi ro có thể được chuyển từ Nhà nước sang các chủ thể trực tiếp tham gia thị trường. Phó Giáo sư, Tiến sĩ Ngô Trí Long cho rằng, cũng cần nghiên cứu thiết kế hợp đồng mua bán điện (PPA) linh hoạt theo từng giai đoạn, đồng thời xem xét cơ chế giá điện nhiều thành phần, trong đó có giá công suất, nhằm cân bằng giữa yêu cầu điều tiết của Nhà nước và khả năng hoàn vốn của nhà đầu tư.

Thực tế, Nghị quyết số 70 NQ/TW đã đặt yêu cầu khẩn trương rà soát, tháo gỡ khó khăn để thúc đẩy các dự án điện khí, LNG, nhất là cơ chế về giá mua bán điện; đồng thời yêu cầu phát triển thị trường điện theo hướng cạnh tranh, minh bạch, hiệu quả; hoàn thiện hệ thống giao dịch điện và cơ chế PPA ổn định, dài hạn, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư. Việc nghiên cứu cơ chế cho các dịch vụ phụ trợ cũng được đặt ra nhằm tạo thêm nguồn thu và cải thiện hiệu quả tài chính của dự án. Để điện khí LNG thật sự phát huy vai trò trong giai đoạn chuyển tiếp năng lượng, cần đồng thời tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, hạ tầng, giá điện, hợp đồng mua bán điện, cơ chế huy động và thu xếp vốn. Khi những điều kiện này được hoàn thiện, điện khí LNG cùng các nguồn điện khác sẽ góp phần củng cố nền tảng an ninh năng lượng, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội và mục tiêu tăng trưởng cao của đất nước.

LÊ CHI

Sự bùng nổ của các nguồn năng lượng tái tạo như điện gió và điện mặt trời đang đặt ra thử thách gay gắt đối với an toàn vận hành hệ thống điện quốc gia do tính chất bất ổn định và phụ thuộc lớn vào thời tiết. Trong giai đoạn chuyển dịch năng lượng hiện nay, các nhà máy nhiệt điện sử dụng khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG) đóng vai trò là giải pháp nền linh hoạt tối ưu nhờ khả năng điều chỉnh công suất cực nhanh. Việc phát triển điện khí LNG không chỉ bảo đảm cân đối cung cầu điện năng mà còn tạo nền tảng vững chắc để tích hợp hiệu quả nguồn năng lượng xanh quy mô lớn. Theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, Việt Nam đặt mục tiêu đưa tổng công suất nhiệt điện LNG đạt 22.524 MW vào năm 2030, chiếm khoảng 9,5 đến 12,3% tổng công suất nguồn điện trong nước. Chiến lược này phù hợp với tinh thần Nghị quyết 70-NQ/TW của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, trong đó ưu tiên đa dạng hóa các nguồn năng lượng sạch và giảm dần tỷ trọng điện than. Bên cạnh đó, hệ thống cũng định hướng đầu tư khoảng 2.000 đến 3.000 MW nguồn điện linh hoạt khởi động nhanh nhằm duy trì độ ổn định khi tỷ trọng năng lượng tái tạo ngày càng tăng. Để đáp ứng mục tiêu đề ra, Bộ Công Thương nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hoàn thiện hạ tầng nhập khẩu, dự trữ LNG và hình thành các trung tâm công nghiệp năng lượng tập trung tại các vùng miền có lợi thế. Trong giai đoạn từ năm 2025 đến năm 2035, cả nước dự kiến triển khai 22 dự án nhiệt điện LNG, trong đó 15 dự án sẽ đưa vào vận hành thương mại trước năm 2030. Điển hình cho bước tiến này là việc đưa cụm Nhà máy nhiệt điện LNG Nhơn Trạch 3 và 4 vào vận hành, góp phần bổ sung nguồn cung và nâng cao độ tin cậy cho hệ thống điện quốc gia.