Bỏ qua điều hướng
•

Nhìn từ cơn sốt BIGBANG: Làm gì để công nghiệp văn hóa đóng góp vào tăng trưởng?

Nhìn từ cơn sốt BIGBANG: Làm gì để công nghiệp văn hóa đóng góp vào tăng trưởng?
Nguồn ảnh: Dân Trí

(Dân trí) - Sức hút của sự kiện âm nhạc, chương trình biểu diễn quy mô lớn như BIGBANG nếu được khai thác tốt, tạo hiệu ứng lan tỏa sang du lịch, hàng không, mua sắm… có thể giúp đóng góp nhiều hơn vào GDP.

Những ngày qua, cơn sốt săn vé hai đêm diễn của BIGBANG tại Hà Nội vào cuối tuần (24 và 25/10), cùng không ít chương trình nghệ thuật khác như Anh trai vượt ngàn chông gai, Tinh hà say hi… thu hút đông đảo người hâm mộ và khán giả khắp cả nước.

Những sự kiện cho thấy dư địa phát triển kinh tế rất lớn của công nghiệp văn hóa. Bởi mỗi chương trình không chỉ dừng ở doanh thu biểu diễn mà còn mở ra cơ hội thúc đẩy du lịch, hàng không, mua sắm và nhiều dịch vụ khác… Phóng viên Dân trí trao đổi với TS Đào Thị Thu Hằng, Đại học Kinh tế TPHCM (UEH), về giải pháp để công nghiệp văn hóa đóng góp nhiều hơn cho tăng trưởng.

Nếu nhìn ở góc độ kinh tế, công nghiệp văn hóa có thể đóng góp vào GDP và mục tiêu tăng trưởng hai con số thông qua những kênh nào?

Nhìn từ cơn sốt BIGBANG: Làm gì để công nghiệp văn hóa đóng góp vào tăng trưởng? - 1

TS Đào Thị Thu Hằng.

- Tôi cho rằng cần thay đổi cách tiếp cận, công nghiệp văn hóa không chỉ là lĩnh vực đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa, còn là một ngành kinh tế có khả năng tạo ra giá trị gia tăng, việc làm, xuất khẩu và kích thích hoạt động của nhiều ngành kinh tế khác.

Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên. Đồng thời, Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, được phê duyệt theo Quyết định số 2486/QĐ-TTg tháng 11/2025, đặt mục tiêu các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP vào năm 2030. Những mục tiêu này cho thấy công nghiệp văn hóa đã được đặt trong định hướng phát triển kinh tế quốc gia.

Vấn đề hiện nay là làm thế nào để chuyển hóa tiềm năng đó thành giá trị kinh tế có thể đo lường được. Có ít nhất bốn kênh đóng góp chính.

Thứ nhất, đây là ngành tạo ra giá trị gia tăng trực tiếp. Khi một doanh nghiệp tổ chức concert, sản xuất chương trình truyền hình, làm phim, phát triển trò chơi điện tử hoặc khai thác bản quyền âm nhạc, doanh nghiệp đó đang tham gia vào hoạt động sản xuất, kinh doanh. Giá trị kinh tế không chỉ nằm ở vé bán ra mà còn ở doanh thu quảng cáo, tài trợ, bản quyền, phân phối nội dung, sản phẩm ăn theo và khai thác trên các nền tảng số.

Sản phẩm văn hóa có một đặc điểm kinh tế đáng chú ý: Ngoài chi phí sáng tạo ban đầu, một tác phẩm hoặc nội dung còn có khả năng được khai thác nhiều lần, trên nhiều thị trường và qua nhiều phương thức phân phối. Nếu quản lý tốt quyền sở hữu trí tuệ, một sản phẩm có thể tiếp tục tạo doanh thu sau khi sự kiện trực tiếp đã kết thúc. Đây là cơ hội để Việt Nam chuyển từ mô hình chủ yếu bán dịch vụ biểu diễn sang mô hình kinh doanh nội dung, thương hiệu và tài sản trí tuệ.

Nhìn từ cơn sốt BIGBANG: Làm gì để công nghiệp văn hóa đóng góp vào tăng trưởng? - 2

Không khí bên trong sự kiện săn đồ lưu niệm show BIGBANG ở Hà Nội (Ảnh: Ban tổ chức).

Thứ hai, tạo ra hiệu ứng lan tỏa liên ngành. Một concert lớn có thể đồng thời tạo nhu cầu đối với vận tải hàng không, đường sắt, lưu trú, nhà hàng, bán lẻ, vận chuyển nội đô, quảng cáo, sản xuất thiết bị và dịch vụ công nghệ. Vì vậy, nếu chỉ thống kê doanh thu của đơn vị tổ chức biểu diễn, chúng ta sẽ bỏ sót một phần đáng kể tác động kinh tế của sự kiện.

Tuy nhiên, không thể lấy tổng doanh thu của các concert, khách sạn, hãng hàng không và nhà hàng rồi cộng lại để kết luận đó là mức đóng góp vào GDP. Doanh thu là giá trị bán hàng, còn GDP phản ánh giá trị gia tăng được tạo ra trong nền kinh tế. Nếu không loại trừ các giao dịch trung gian và phần trùng lặp, sẽ đánh giá quá cao tác động thực tế.

Vì vậy, để xác định công nghiệp văn hóa đóng góp bao nhiêu vào tăng trưởng, cần theo dõi đồng thời doanh thu, giá trị gia tăng, việc làm, thu nhập, xuất khẩu và tác động lan tỏa liên ngành. Đây cũng là lý do phát triển công nghiệp văn hóa phải đi cùng với việc hoàn thiện hệ thống thống kê kinh tế.

Thứ ba, thu hút chi tiêu từ bên ngoài địa phương và từ nước ngoài. Nếu một sự kiện khiến người dân ở địa phương khác hoặc khách quốc tế quyết định đến Hà Nội, họ có thể chi tiền cho cả vé máy bay, khách sạn, ăn uống và tham quan. Khi đó, sự kiện văn hóa không chỉ tạo doanh thu cho ngành giải trí mà còn góp phần mở rộng thị trường cho nền kinh tế điểm đến. Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) cũng xem các sự kiện lớn là công cụ có thể thúc đẩy kinh tế du lịch, tăng mức độ nhận diện điểm đến và hỗ trợ phát triển địa phương.

Thứ tư, nâng cao năng suất, năng lực sáng tạo và sức cạnh tranh quốc gia. Công nghiệp văn hóa tạo thị trường cho lao động sáng tạo, công nghệ số, thiết kế, truyền thông và các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ chuyên nghiệp. Về dài hạn, khả năng sáng tạo nội dung có sức cạnh tranh quốc tế còn giúp Việt Nam xuất khẩu sản phẩm và dịch vụ có hàm lượng trí tuệ cao, thay vì chỉ thu hút khách đến tiêu dùng tại chỗ.

Vậy làm sao để sức hút của concert và chương trình giải trí lan tỏa sang du lịch, hàng không, lưu trú, mua sắm và các ngành dịch vụ?

- Đây chính là vấn đề quan trọng nhất nếu muốn nhìn công nghiệp văn hóa từ góc độ tăng trưởng kinh tế. Một concert thành công về nghệ thuật chưa chắc đã tạo ra hiệu quả kinh tế tối ưu cho địa phương tổ chức. Hiệu quả đó phụ thuộc vào việc sự kiện có thu hút thêm khách đến hay không, khách ở lại bao lâu, mức chi tiêu ra sao, doanh nghiệp địa phương tham gia được bao nhiêu và bao nhiêu giá trị được giữ lại trong nền kinh tế trong nước.

Để chuỗi này vận hành, cần các nhóm giải pháp. 

Một là, chuyển từ tư duy tổ chức sự kiện sang tư duy phát triển điểm đến dựa trên sự kiện. Khi có một concert thu hút lượng lớn người hâm mộ, thành phố không nên chỉ quan tâm đến địa điểm biểu diễn, an ninh và trật tự. Cần phối hợp với doanh nghiệp du lịch, hãng hàng không, cơ sở lưu trú, đơn vị vận tải, trung tâm thương mại và các điểm tham quan để xây dựng những gói trải nghiệm tích hợp.

Chẳng hạn, vé concert có thể được kết nối với chương trình lưu trú, tour tham quan di sản, trải nghiệm ẩm thực và các sản phẩm mua sắm đặc trưng của Hà Nội, TPHCM... Khách đến vì nghệ sĩ, nhưng có thể ở lại lâu hơn để khám phá điểm đến, quan trọng là phải thiết kế những sản phẩm có giá trị thực. 

Nhìn từ cơn sốt BIGBANG: Làm gì để công nghiệp văn hóa đóng góp vào tăng trưởng? - 3

Đêm nhạc "Anh trai vượt ngàn chông gai" ngày 17/10 ở TPHCM thu hút khoảng 50.000 khán giả. (Ảnh: Nam Anh).

Hai là, phối hợp lịch sự kiện với năng lực cung ứng của các ngành dịch vụ. Đối với hàng không và lưu trú, giá trị không chỉ nằm ở việc tăng số lượng khách mà còn ở khả năng dự báo nhu cầu. Khi lịch sự kiện được công bố sớm và có độ tin cậy, các hãng vận tải có thể cân nhắc bổ sung chuyến, các cơ sở lưu trú có thể bố trí công suất, còn doanh nghiệp du lịch có thể xây dựng sản phẩm phù hợp...

Việt Nam cần chiến lược và giải pháp gì để khai thác tiềm năng công nghiệp văn hóa, tạo doanh thu, việc làm và giá trị gia tăng bền vững?

- Cần chuyển từ cách tiếp cận phát triển từng sự kiện riêng lẻ sang phát triển một hệ sinh thái công nghiệp văn hóa có khả năng tạo ra giá trị liên tục.

Một là, tổ chức phát triển công nghiệp văn hóa theo chuỗi giá trị, gắn với các ngành kinh tế khác. Thay vì chỉ đặt mục tiêu có bao nhiêu concert, bộ phim hoặc chương trình truyền hình, cần xem xét toàn bộ chuỗi từ sáng tạo, sản xuất, đầu tư, phân phối, thương mại hóa đến xuất khẩu sản phẩm văn hóa. Các khâu này có thể tạo doanh thu vào những thời điểm khác nhau và phục vụ những nhóm khách hàng khác nhau.

Nhìn từ cơn sốt BIGBANG: Làm gì để công nghiệp văn hóa đóng góp vào tăng trưởng? - 4

Người hâm mộ xếp hàng xuyên trưa dưới nắng nóng gay gắt để chờ mua được đồ lưu niệm show BIGBANG. (Ảnh: Hương Hồ)

Đối với một thành phố, việc phát triển chuỗi giá trị ấy còn cần liên kết với du lịch, lưu trú, vận tải, thương mại và dịch vụ địa phương. Đây là cách để giá trị kinh tế không kết thúc khi ánh đèn sân khấu tắt.

Hai là, lựa chọn những lĩnh vực có lợi thế cạnh tranh để phát triển thành sản phẩm và thương hiệu quốc gia. Việt Nam không nhất thiết phải cạnh tranh bằng quy mô với tất cả các trung tâm giải trí lớn trên thế giới. Chiến lược tại Quyết định số 2486/QĐ-TTg đã xác định 10 ngành công nghiệp văn hóa chủ chốt, bao gồm nghệ thuật biểu diễn, điện ảnh, du lịch văn hóa, thiết kế sáng tạo, truyền hình và phát thanh, phần mềm và trò chơi giải trí cùng các lĩnh vực khác. Đây là cơ sở chính sách để lựa chọn các ngành có tiềm năng và xây dựng chương trình phát triển phù hợp.

Cần ưu tiên những sản phẩm có thể đồng thời đáp ứng ba yêu cầu: có thị trường, có khả năng tạo giá trị gia tăng và có khả năng phát triển thành thương hiệu Việt Nam. Không nên đánh giá hiệu quả chỉ qua số lượng sự kiện hay mức độ nổi tiếng nhất thời.

Ba là, thiết lập cơ chế phối hợp liên ngành và liên địa phương. Một sự kiện có thể được tổ chức tại Hà Nội, nhưng người tham dự có thể đi máy bay từ nhiều tỉnh thành, sử dụng dịch vụ của nhiều doanh nghiệp và tiếp tục du lịch ở những địa phương khác. Cần có cơ chế phối hợp giữa cơ quan quản lý và chính quyền địa phương để xây dựng lịch sự kiện, xúc tiến điểm đến, kết nối sản phẩm...

Quan trọng hơn, cần xây dựng hệ thống đo lường hiệu quả kinh tế và thiết kế chính sách dựa trên bằng chứng. Bộ chỉ tiêu thống kê cần thiết lập như doanh thu, giá trị gia tăng và đóng góp vào GDP của từng ngành. Số việc làm, thu nhập và chất lượng việc làm được tạo ra. Chi tiêu tăng thêm của khách tham dự sự kiện, thời gian lưu trú và mức chi tiêu bình quân. Tỷ lệ doanh thu, chi phí và giá trị gia tăng được giữ lại trong nước... Khi có dữ liệu đáng tin cậy, Nhà nước mới có cơ sở để xác định ngành nào cần ưu tiên, loại hạ tầng nào đáng đầu tư, hình thức hỗ trợ nào mang lại hiệu quả và chính sách nào cần điều chỉnh.

Mục tiêu 7% GDP vào năm 2030 là một mục tiêu chiến lược quan trọng, nhưng việc đạt được mục tiêu không nên chỉ được đánh giá bằng một tỷ lệ tổng hợp. Công nghiệp văn hóa chỉ thực sự trở thành động lực tăng trưởng khi xây dựng được các doanh nghiệp, sản phẩm, quyền tài sản trí tuệ và chuỗi cung ứng có khả năng tạo giá trị liên tục. Đây cũng là cách để sức hút văn hóa chuyển hóa thành năng lực kinh tế, thay vì chỉ tạo ra những đợt tiêu dùng ngắn hạn.

Cơn sốt săn vé hai đêm diễn của BIGBANG tại Hà Nội cùng loạt chương trình nghệ thuật như Anh trai vượt ngàn chông gai và Tinh hà say hi đang chứng minh tiềm năng kinh tế vượt trội của các sự kiện biểu diễn quy mô lớn. Những hoạt động này không đơn thuần đáp ứng nhu cầu thưởng thức của công chúng mà còn phản ánh rõ nét sức sống của ngành công nghiệp văn hóa trong bức tranh kinh tế chung. Theo Quyết định số 2486/QĐ-TTg, Việt Nam đặt mục tiêu đưa các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 7% vào GDP quốc gia đến năm 2030. Tiến sĩ Đào Thị Thu Hằng từ Đại học Kinh tế TPHCM nhận định lĩnh vực này cần được nhìn nhận như một ngành kinh tế mũi nhọn, có năng lực tạo ra việc làm, xuất khẩu và giá trị gia tăng trực tiếp. Nguồn thu của ngành không dừng lại ở doanh số bán vé mà còn đến từ bản quyền nội dung, tài trợ quảng cáo và các sản phẩm phái sinh trên nền tảng số. Bên cạnh giá trị trực tiếp, các đại nhạc hội còn tạo ra hiệu ứng lan tỏa mạnh mẽ tới chuỗi cung ứng dịch vụ gồm hàng không, lưu trú, ăn uống và bán lẻ. Việc khai thác bền vững tài sản trí tuệ kết hợp với sự phối hợp liên ngành sẽ là đòn bẩy quan trọng giúp hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế của đất nước.
amung