Bỏ qua điều hướng
•

Những câu chuyện khởi nguồn tác phẩm: Nguyễn Tuân làm nông, viết kiệt tác 'Sông Đà'

Những câu chuyện khởi nguồn tác phẩm: Nguyễn Tuân làm nông, viết kiệt tác 'Sông Đà'
Nguồn ảnh: Thanh Niên

Nhà văn không chỉ có cây viết và tập giấy, để tạo nên những tác phẩm phóng sự, ký sự để đời, họ còn thâm nhập thực tế, đứng chân trong chính nội dung tác phẩm mà sau này họ viết nên.

Tập ký Sông Đà gắn liền với tên tuổi của nhà văn Nguyễn Tuân. Nguồn cơn cho sự ra đời của tác phẩm để đời này được Nguyễn Tuân chia sẻ nơi bài Về thể ký trong tác phẩm Công việc viết văn (Trường Viết văn Nguyễn Du, 1985). Theo đó, Nguyễn Tuân cùng các bạn văn đi thực tế do Nguyễn Huy Tưởng làm tổ trưởng, địa bàn là Điện Biên. "Ở Điện Biên, bọn nhà văn chúng tôi cũng cầy bừa cấy hái, lao động hàng ngày với nhân dân". Sau chuyến đó về Hà Nội, Nguyễn Tuân lại xin đi viết, "và tôi lại lên Điện Biên, trở lại nơi đã đi thực tế và đi rộng ra nữa, đi một mình suốt 6 tháng. Từ đó, mới đẻ ra tập ký Sông Đà".

Nhưng để ra đời được Sông Đà, không chỉ là những trải nghiệm thực tế "cứ đi hết nơi này đến nơi kia, cứ lóc cóc mà đi như thế, cái đó đã nhập vào quá trình lao động nghệ thuật lúc nào không biết", Nguyễn Tuân còn phải gia công nhiều hơn nữa. 

Cha đẻ của phóng sự Tàn đèn dầu lạc cho biết, ông còn phải đọc nhiều sách, tra cứu nhiều tư liệu liên quan. Trước khi đi Lai Châu, Nguyễn Tuân tìm hiểu về đất này qua bộ sách bảy cuốn La mission Pavie. Nhờ đó "đến khi lên thực địa gặp người, gặp cảnh, những hiểu biết tư liệu ấy đã giúp cho mình rất nhiều để nhìn, nghe, hỏi… Và các kiến thức ấy hình thành dần dần đậm nét lên, cho tôi những trang sinh động trong tập Sông Đà".

Những câu chuyện khởi nguồn tác phẩm: Nguyễn Tuân làm nông, viết kiệt tác 'Sông Đà'- Ảnh 1.

Phóng sự Tôi kéo xe của Tam Lang, bản in năm 2014

ẢNH: TRẦN ĐÌNH BA

Việc kết hợp đọc, đi thực tế, theo Nguyễn Tuân, giúp ích rất nhiều cho việc viết. Nhà văn cho hay "kinh nghiệm đọc sách của tôi là thượng vàng hạ cám, cái gì tôi cũng đọc, nhưng đọc xong phải có ý riêng của mình, có suy nghĩ của mình, và ghi lại". Thế nên không ngạc nhiên khi ông đọc cả sách địa chất, và việc ấy không hoài công chút nào. "Tôi đọc cả những sách và tài liệu về địa chất, tuy chẳng phải nghề mình, nhưng tôi càng hiểu đất nước hơn, càng yêu thương đất nước với một tình yêu cụ thể. Việc đọc những tài liệu địa chất ấy giúp tôi viết thêm bài Sông Đà đỏ trong lần xuất bản thứ hai".

Vẫn trong Công việc viết văn, Nguyễn Tuân còn nhớ khi đi thực tế Điện Biên, "Nguyễn Huy Tưởng xin đi nằm quân y. Tôi biết: thằng này [nhà văn gọi thân tình] láu lắm, lỉnh đi làm ăn riêng. Cậu ta đang viết về pháo binh, mà ở quân y khi ấy đang có nhiều đồng chí pháo binh nằm tại đó".

Đời cạo giấy từ thực tế nghề của Vũ Trọng Phụng

Vũ Bằng được độc giả biết đến với những thiên truyện, hồi ký Phù dung ơi, vĩnh biệt!, Bốn mươi năm "nói láo", Thương nhớ mười hai… thế nhưng như tâm sự của chính chủ, lúc còn trẻ, Vũ Bằng từng làm thơ nữa. Cái nguyên do làm thơ ấy không phải từ niềm yêu thích, tài năng thiên bẩm, mà từ một nguồn cơn khác. 

Khi còn là anh học trò, Vũ Bằng đọc thơ Tản Đà, mê mẩn bài Thề non nước, rồi thuộc lòng như cháo chảy Khối tình con. Yêu người, yêu thơ, chàng trai họ Vũ học theo thần tượng, cũng làm thơ và uống rượu, "nhưng may làm sao chỉ làm thơ ký tên là Thu Tâm Tử và An Sơn được ít lâu thì nhận thức ngay là thơ mình tồi quá, nghe không lọt được vào tai tôi vội vàng thôi ngay; nhưng bắt chước Tản Đà uống rượu thì cái bịnh ấy lai rai đến tận bây giờ không khỏi", Mười bốn gương mặt nhà văn đồng nghiệp ghi.

Những câu chuyện khởi nguồn tác phẩm: Nguyễn Tuân làm nông, viết kiệt tác 'Sông Đà'- Ảnh 2.

Phóng sự Lục xì của Vũ Trọng Phụng, bản in năm 1998

ẢNH: TRẦN ĐÌNH BA

Vũ Trọng Phụng, được biết đến là "ông vua phóng sự Bắc Kỳ" với những Cạm bẫy người, Lục xì... Vũ Ngọc Phan cho hay, sau khi đậu bằng Sơ học Pháp Việt, Vũ Trọng Phụng đi làm ở cửa hàng bách hóa Gô-đa (Godart) để đỡ đần cho mẹ. Tại đây, nhà văn là bạn đồng nghiệp với Ký Con Đoàn Trần Nghiệp đang làm thư ký cho cửa hàng. "Về sau, khi đã bỏ không làm Gô-đa nữa, anh viết ký sự Đời cạo giấy trong đó có nói đến Đoàn Trần Nghiệp. Thiên ký sự mới đăng được vài kỳ trên báo Tiến hóa thì báo bị thực dân Pháp đóng cửa", hồi ký Những năm tháng ấy của Vũ Ngọc Phan ghi.

Với phóng sự Lục xì viết về nạn mãi dâm ở Hà Nội, vẫn lời Vũ Ngọc Phan, Vũ Trọng Phụng "viết dựa vào tài liệu của bác sĩ Joyeux, giám đốc Sở Vệ sinh và nhà Lục xì Hà Nội lúc bấy giờ".

Khoản phóng sự Vũ Trọng Phụng được xem là "vua", thì Tam Lang Vũ Đình Chí cũng gây ấn tượng mạnh với thiên phóng sự Tôi kéo xe. Chính Tam Lang đã thực hành cái nghề xe kéo ấy để rồi viết nên thiên phóng sự làm nên tên tuổi của ông. Và chất xúc tác để ông thâm nhập vào cái nghề "xe người" dạo ấy, chính là từ bạn đồng nghiệp đã khuyên ông dùng lợi thế của ngòi bút tả chân, đóng vai phu xe kéo, tìm hiểu về cái nghề bán sức kiếm tiền ấy, mà trong lời tặng của ông in trong sách Tôi kéo xe có dòng "Kính tặng ông Bùi Xuân Học, Chủ nhiệm Ngọ báo, người đã đội lên đầu tôi chiếc nón phu xe kéo". (còn tiếp)

Sự ra đời của các kiệt tác ký sự và phóng sự trong văn học Việt Nam luôn gắn liền với hành trình thâm nhập thực tế sâu sắc của các nhà văn. Nhằm tạo nên tập ký "Sông Đà" danh tiếng, nhà văn Nguyễn Tuân cùng các đồng nghiệp đã trực tiếp lên Điện Biên lao động cấy hái cùng nhân dân, đồng thời ông dành tới 6 tháng đi thực tế một mình khắp vùng đất này. Việc đứng chân trong chính đời sống thực tại giúp tác giả tích lũy vốn sống phong phú và chuyển hóa thành chất liệu nghệ thuật sinh động. Bên cạnh những trải nghiệm thực địa, công phu nghiên cứu tài liệu cẩn trọng đóng vai trò quan trọng không kém trong quá trình sáng tạo. Nguyễn Tuân từng chủ động tra cứu bộ sách 7 cuốn "La mission Pavie" trước khi đến Lai Châu, kết hợp đọc rộng rãi các tài liệu về địa chất để bồi đắp tình yêu quê hương đất nước. Sự kết hợp giữa kiến thức sách vở và thực chứng thực địa đã giúp ông xây dựng nên những trang viết sắc sảo, thậm chí bổ sung thêm bài "Sông Đà đỏ" trong lần xuất bản thứ hai. Hành trình đi và đọc của thế hệ nhà văn như Nguyễn Tuân, Nguyễn Huy Tưởng hay Vũ Bằng cho thấy tinh thần lao động nghệ thuật nghiêm túc và bền bỉ. Mối liên hệ chặt chẽ giữa trải nghiệm thực tế và tri thức nghiên cứu chính là nền tảng cốt lõi để tạo nên những tác phẩm văn học sống mãi với thời gian.