Thực tế lại khác. Những tuần sau đó, khối mà tuyến dưới gọi là "thai lưu" cứ lớn nhanh. Bé còn lại cạn ối, chậm lớn, theo ghi nhận của ê kíp điều trị còn có dấu hiệu thiếu máu. Bé đứng trước nguy cơ tử vong.
TS.BS Nguyễn Thị Sim, nay là Giám đốc Trung tâm Y học Bào thai, Bệnh viện Đại học Phenikaa, nhìn ra điều tuyến dưới bỏ sót. Khối kia chưa từng là một thai lưu. Đó là một thai không có tim. Hai bé dùng chung bánh nhau, bé khỏe phải bơm máu nuôi cả khối thai không tim. Nó lớn lên nhờ máu của em mình, còn em mình kiệt dần.
Giới chuyên môn gọi đây là song thai không tim, hay hội chứng TRAP. Bệnh hiếm, gặp ở khoảng 1/35.000 thai kỳ. Nếu không can thiệp, khoảng một nửa số thai bơm máu tử vong. Song thai chung bánh nhau là hai thai sinh ra từ một trứng đã thụ tinh rồi tách đôi, dùng chung một bánh nhau, nên máu hai bé có thể thông với nhau qua các mạch nối.
Ở những ca như vậy, việc chẩn đoán chính xác gần như quyết định sống còn. Trên thế giới, dị tật và bất thường bẩm sinh cướp đi khoảng 240.000 trẻ sơ sinh mỗi năm ngay trong tháng đầu đời, theo WHO. Nhiều năm liền, bác sĩ Việt Nam đứng trước những thai nhi như thế với hai việc quen thuộc: chẩn đoán, rồi cùng gia đình chờ.
Bác sĩ Sim hội ngộ những em bé được can thiệp trong bào thai. Ảnh: Mai Thuận
Bác sĩ Sim hiểu cảm giác chờ ấy từ hai phía. Suốt gần 20 năm làm sản phụ khoa, bà gặp liên tục những ca truyền máu song thai, dải xơ buồng ối, thiểu ối, trong khi khả năng điều trị trước sinh trong nước còn mỏng. Bản thân bà cũng từng nằm trên bàn sinh. Lần đầu, bà băng huyết và phải truyền máu. Lần thứ hai, thai thiếu ối, bà sinh non khi các lựa chọn điều trị còn ít.
"Có những thời điểm mình nhìn thấy vấn đề nhưng chưa có đủ công cụ để giải quyết. Chính cảm giác ấy khiến tôi luôn đặt câu hỏi: Sau chẩn đoán, người bác sĩ còn có thể làm gì cho đứa trẻ?", bác sĩ kể.
Năm 2017, bà sang Pháp học chuyên sâu về y học bào thai. Thứ bà mang về lớn hơn cách cầm kim, điều khiển laser hay ống nội soi. Bác sĩ Sim học cách dựng một quy trình khép kín, bắt đầu từ chẩn đoán chính xác và chọn đúng bệnh nhân. Sau đó, êkíp phải canh thời điểm can thiệp, kiểm soát biến chứng rồi chăm sóc em bé sau sinh.
Ca bệnh ở Nghệ An đòi hỏi đúng quy trình đó. Êkíp đưa ống soi siêu nhỏ qua thành bụng người mẹ vào buồng ối, tìm các mạch máu nối trên bánh nhau rồi dùng laser làm đông, cắt nguồn máu nuôi thai không tim. Bé khỏe được giải phóng khỏi gánh nặng tuần hoàn kép.
Can thiệp xong, cuộc chiến vẫn chưa hết. Bác sĩ dùng các biện pháp chống sinh non để giữ thai. Đến tuần 33, sản phụ chuyển dạ và được mổ lấy thai. Êkíp đưa bé khỏe ra trước, sau đó mới lấy khối thai không tim.
"Đây là em bé đầu tiên được cứu sống và chào đời khỏe mạnh sau can thiệp bào thai điều trị hội chứng truyền máu song thai được 7 tuần", bác sĩ Sim nói.
Càng làm nhiều, bà càng tin rằng cầm dao kéo không phải lúc nào cũng đúng.
Một thai phụ 29 tuổi ở TP HCM nhận tin dữ ở tuần thai 21 khi con mắc hội chứng dải xơ buồng ối. Những sợi mô từ màng ối có thể quấn quanh cơ thể thai, siết mạch máu, làm tổn thương chi, gây dị dạng, thậm chí đe dọa tính mạng. Chị không chịu buông, bay ra Hà Nội tìm bác sĩ Sim.
Bà siêu âm, xem vị trí dải xơ, tuổi thai, bánh nhau, cân từng nguy cơ. Rồi bà quyết định chưa can thiệp. Nội soi dùng laser cắt dải xơ có thể cân nhắc ở vài trường hợp. Đến nay, y văn quốc tế ghi nhận kỹ thuật này chủ yếu qua những loạt ca nhỏ. Với thai phụ này, nữ bác sĩ đánh giá nguy cơ vỡ ối sớm, sinh non và nhiễm trùng có thể lấn át lợi ích.
"Có kỹ thuật không có nghĩa là phải sử dụng. Quan trọng là đúng người bệnh và đúng thời điểm. Khi nguy cơ can thiệp lớn hơn lợi ích, theo dõi sát cũng là một quyết định điều trị", bác sĩ Sim nói.
Êkíp theo dõi thai suốt 18 tuần. Họ đo sinh trắc, dõi theo dải xơ, kiểm tra dòng máu qua siêu âm Doppler. Thai lớn đều. Dải xơ không gây biến chứng nặng.
Tuần 39, sản phụ chuyển dạ. Bác sĩ Sim bay vào TP HCM, trực tiếp đỡ ca sinh. Bé trai nặng 2,9 kg. Trên người bé còn một vết hằn nhỏ của dải xơ, không ảnh hưởng đáng kể đến sức khỏe.
"Điều tôi nghĩ nhiều hơn là chúng tôi có kỹ thuật trong tay nhưng cuối cùng lại chọn không sử dụng. Làm y học bào thai không chỉ là học cách can thiệp, mà còn phải nhận ra khi nào không can thiệp mới tốt hơn cho mẹ và con", bà nói.
Bác sĩ Sim thực hiện một ca can thiệp bào thai. Ảnh: Bác sĩ cung cấp
Mỗi ca can thiệp bào thai kéo theo một chuỗi câu hỏi mà người ngoài ít thấy. Chẩn đoán đúng chưa? Thai có cần can thiệp không? Làm lúc nào? Mẹ gánh rủi ro gì? Nếu bé ra sớm, khoa sơ sinh đã sẵn sàng hồi sức chưa? Một ca có khi cần bác sĩ y học bào thai ngồi cùng bàn với sản khoa, di truyền, chẩn đoán hình ảnh, gây mê hồi sức, ngoại nhi, tim mạch và sơ sinh.
"Thai nhi là người bệnh, nhưng đường tiếp cận lại đi qua người mẹ. Vì vậy, chúng tôi phải nhìn đồng thời hai người bệnh và cả hành trình của đứa trẻ sau khi chào đời", bác sĩ Sim nói.
Bà không đo một trung tâm y học bào thai bằng số ca can thiệp hay số kỹ thuật mới. Thước đo của nữ bác sĩ gồm chẩn đoán đúng, chỉ định hợp lý, can thiệp đúng lúc, người mẹ an toàn và đứa trẻ được theo dõi nhiều năm sau sinh.
Vị chuyên gia cũng nhìn khác về hai chữ "tiên phong". Một kỹ thuật có thể khởi đầu từ một người. Nếu 10 năm sau vẫn chỉ người đó làm được, năng lực ấy vẫn mong manh. "Người tiên phong không nên là người duy nhất làm được", bà nói. Hiện bác sĩ Sim dồn sức đào tạo bác sĩ trẻ, kết nối chuyên gia trong và ngoài nước, xây hội chẩn đa chuyên khoa cùng quy trình chăm sóc liền mạch từ trước sinh đến sau sinh.
Ở Nghệ An, đứa trẻ từng suýt chết vì phải nuôi một người anh em không có tim đã chào đời khỏe mạnh. Ở TP HCM, một bé trai chào đời chỉ mang theo vết hằn nhỏ. Một ca được cứu bằng laser, ca kia được cứu bằng quyết định dừng tay. Bác sĩ Sim muốn cả hai lựa chọn ấy không còn phụ thuộc vào đôi tay một người.
"Nếu một kỹ thuật khó được thực hiện thành công, đó có thể là thành tựu của một bác sĩ. Nhưng khi kỹ thuật trở thành năng lực của cả đội ngũ và hệ thống, giá trị ấy mới có thể được duy trì lâu dài", bà nói.
Lê Nga