Cách tiếp cận mới đối với môi trường thông tin
Có lẽ chưa bao giờ con người được tiếp cận với khối lượng thông tin lớn như hiện nay. Chỉ bằng một điện thoại thông minh, mỗi người có thể biết gần như tức thời những gì đang diễn ra, tiếp cận kho tri thức khổng lồ, tham gia thảo luận xã hội và tự mình trở thành một chủ thể truyền tải thông tin. Nhưng cũng chính ở nơi thông tin dồi dào nhất lại xuất hiện nghịch lý: Chúng ta có nhiều thông tin hơn nhưng không phải lúc nào cũng hiểu biết tốt hơn; có nhiều nguồn tin hơn nhưng xác định đâu là nguồn đáng tin cậy khó khăn hơn; kết nối nhiều hơn nhưng xã hội cũng có nguy cơ phân mảnh bởi những “buồng vang” thông tin chỉ lặp lại điều người ta muốn nghe.
Tin giả không phải hiện tượng mới. Điều mới nằm ở tốc độ và công nghệ khuếch đại nó. Trí tuệ nhân tạo tạo sinh khiến việc tạo ra văn bản, hình ảnh, âm thanh, video giả ngày càng dễ dàng và tinh vi; còn thuật toán của các nền tảng số thường ưu tiên nội dung gây chú ý hoặc kích thích cảm xúc. Vì vậy, thách thức lớn nhất không chỉ là có bao nhiêu tin giả cần xử lý mà liệu xã hội còn duy trì được năng lực phân biệt tin thật, giả; đâu là bằng chứng, đâu là thao túng.
Ở tầng sâu hơn, đây chính là câu chuyện về niềm tin. Một thông tin sai có thể gây một hiểu lầm nhất thời, nhưng nếu liên tục xuất hiện và không được giải thích kịp thời, người tiếp nhận có thể chuyển từ hoài nghi một thông tin sang nguồn phát ra và cả thiết chế. Rủi ro lớn nhất của nhiễu động thông tin, bởi thế, không chỉ nằm ở tin vào một điều sai, mà còn ở khả năng dần không còn biết nên tin vào điều gì và tin ai.
Trong bối cảnh ấy, Nghị quyết số 25-NQ/TW về Chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh mới có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Nghị quyết xác định công tác tư tưởng giữ vai trò “đi trước mở đường, đi cùng trong tổ chức thực hiện và đi sau tổng kết thực tiễn, củng cố niềm tin”, đồng thời hướng tới củng cố đoàn kết, thống nhất trong Đảng, đồng thuận trong xã hội và sức mạnh nội sinh của đất nước. Phương châm “Chủ động-Sắc bén-Thuyết phục-Hiệu quả” được đồng chí Trịnh Văn Quyết, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương nhấn mạnh không chỉ là yêu cầu đối với công tác tư tưởng mà còn gợi mở một cách tiếp cận mới đối với môi trường thông tin: phải chủ động dự báo, kịp thời định hướng và thuyết phục bằng sự thật, lý lẽ, kết quả thực tế.
Từ đây, chúng ta cần suy nghĩ rộng hơn về một khái niệm: quản trị niềm tin. Quản trị niềm tin không có nghĩa là làm cho mọi người cùng suy nghĩ giống nhau. Một xã hội hiện đại đương nhiên tồn tại những quan điểm khác nhau; phản biện là cần thiết, khác biệt là bình thường. Quản trị niềm tin cũng không thể được hiểu giản đơn là kiểm soát thông tin, bởi trong môi trường số xuyên biên giới, việc kiểm soát mọi luồng thông tin vừa không khả thi vừa không phải giải pháp căn cơ.
Quản trị niềm tin phải được hiểu là năng lực kiến tạo một môi trường trong đó sự thật có điều kiện được nhận diện; thông tin chính thống có đủ tốc độ và sức thuyết phục để cạnh tranh; các thiết chế công quyền duy trì được uy tín thông qua tính minh bạch và trách nhiệm; báo chí thật sự là nguồn thông tin đáng tin cậy; người dân có đủ năng lực số để kiểm chứng, lựa chọn và chịu trách nhiệm với thông tin mà mình tiếp nhận cũng như chia sẻ. Đòi hỏi đặt ra là chuyển từ quản lý thông tin sang quản trị hệ sinh thái thông tin, từ đó tiến tới một tầng cao hơn là quản trị niềm tin xã hội.
Niềm tin phải được tạo ra bằng sự thật, trách nhiệm và kết quả
Muốn quản trị niềm tin, sự thật phải có khả năng đến với xã hội đủ nhanh. Trong thời đại mạng xã hội, khoảng trống thông tin có thể nhanh chóng bị lấp đầy bằng suy đoán, bình luận và những cách giải thích chưa được kiểm chứng.
Nếu thông tin chính thống chậm một giờ, hàng trăm cách giải thích khác đã có thể xuất hiện; nếu chậm một ngày, một câu chuyện hoàn toàn khác có thể đã được hình thành trong nhận thức xã hội. Chậm thông tin không chỉ là vấn đề kỹ thuật, trong không ít trường hợp đồng nghĩa với tự nhường không gian cho suy đoán và tin giả. Thông tin chính thống cần đúng, nhanh, rõ ràng, dễ hiểu và có khả năng đối thoại.
Cơ quan công quyền cần chuyển từ tâm thế chỉ công bố khi mọi dữ kiện đã hoàn chỉnh sang tư duy chủ động cung cấp những gì có thể, nói rõ những gì chưa thể kết luận và cập nhật khi xuất hiện dữ kiện mới. Sự minh bạch không nhất thiết là ngay lập tức có tất cả câu trả lời, đôi khi việc thừa nhận rằng một vấn đề đang được xác minh cũng tạo dựng niềm tin tốt hơn sự im lặng. Đây cũng là tinh thần “đi trước mở đường”: công tác tư tưởng phải chủ động hơn một bước, nhận diện sớm rủi ro, không để khoảng trống thông tin trở thành khoảng trống niềm tin.
Muốn người dân tin vào thông tin, trước hết họ phải có niềm tin vào người và thiết chế cung cấp thông tin ấy. Niềm tin xã hội không thể được xây dựng chỉ bằng những lời nói hay, mà được bồi đắp qua sự thống nhất giữa lời nói và việc làm, giữa chủ trương và thực thi, giữa cam kết và kết quả. Một chính sách được truyền thông tốt có thể tạo kỳ vọng, nhưng được thực thi tốt mới tạo niềm tin bền vững.
Tại Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Giá trị và sức sống của các quyết sách phải được đo bằng kết quả thực tế: điểm nghẽn được tháo gỡ, năng lực mới được tạo lập, bộ máy vận hành thông suốt, nguồn lực được khơi thông, năng suất và sức cạnh tranh được nâng cao, đất nước an toàn hơn, Nhân dân được thụ hưởng thiết thực hơn”. Đây cũng là nguyên tắc nền tảng của quản trị niềm tin. Người dân có thể nghe một chủ trương nhưng điều tạo ra niềm tin là họ nhìn thấy sự thay đổi trong cuộc sống; có thể nghe một lời hứa cải cách nhưng điều củng cố niềm tin là thủ tục được đơn giản hóa, khó khăn được tháo gỡ, sai phạm được xử lý công bằng, cán bộ dám chịu trách nhiệm hay dịch vụ công tốt lên.
Vì thế, xây dựng niềm tin xã hội trước hết phải bắt đầu từ chất lượng quản trị. Nhà nước cần hình thành một “hạ tầng niềm tin” cho xã hội số, gồm báo chí chuyên nghiệp; dữ liệu công minh bạch, có thể kiểm chứng; cơ chế phát ngôn nhanh; các cơ sở dữ liệu chính thống dễ tiếp cận; các tổ chức khoa học, chuyên gia có uy tín; công cụ xác thực nguồn tin; đồng thời là trách nhiệm rõ ràng của các nền tảng số đối với nội dung được thuật toán khuếch đại. Trong cấu trúc ấy, lợi thế của báo chí không còn ở việc đưa tin trước, mà ở khả năng kiểm chứng tốt hơn, giải thích sâu hơn và chịu trách nhiệm cao hơn. Niềm tin không thể được tạo dựng bởi một cơ quan truyền thông duy nhất, mà là kết quả của cả một hệ sinh thái thiết chế có trách nhiệm.
Xây dựng sức đề kháng trước tin giả không chỉ dựa vào các cơ quan quản lý, mỗi công dân có năng lực kiểm chứng sẽ trở thành một mắt xích quan trọng trong khả năng tự bảo vệ của xã hội trước thông tin sai lệch.
Giáo dục kỹ năng số giúp mỗi công dân biết kiểm tra nguồn tin, phân biệt sự kiện với quan điểm, nhận diện thao túng cảm xúc, kiểm chứng hình ảnh, video và nội dung do trí tuệ nhân tạo tạo ra. Ở tầng cao nhất, quản trị niềm tin phải quay trở về quan hệ giữa Nhà nước và Nhân dân. Niềm tin không đồng nghĩa với xã hội không có tranh luận. Điều quan trọng là các bên cùng chia sẻ một nền tảng của sự thật, cùng tôn trọng pháp luật, cùng tin rằng những vấn đề được đặt ra sẽ được lắng nghe và giải quyết bằng những thiết chế có trách nhiệm. Khi ấy, khác biệt không trở thành chia rẽ, phản biện không trở thành đối đầu, còn tranh luận trở thành nguồn lực giúp chính sách tốt hơn.
Niềm tin là cầu nối giữa nhận thức và hành động và đồng thuận được hình thành, những nguồn lực phân tán có thể hội tụ thành sức mạnh. Nhưng đồng thuận chỉ bền vững khi tiếp tục được củng cố bằng những kết quả cụ thể trong phát triển đất nước và cải thiện đời sống nhân dân. Khi niềm tin chuyển hóa thành hành động, những mục tiêu lớn trong các nghị quyết mới thật sự có thể đi từ văn kiện vào cuộc sống.
Bởi vậy, trong kỷ nguyên mới, cùng với năng lực hoạch định chính sách, tổ chức thực thi, năng lực số và ứng phó với khủng hoảng, quản trị niềm tin cần được xem như một năng lực cốt lõi của Nhà nước. Đó không phải là kỹ thuật làm cho mọi người tin vào một thông điệp, mà là quá trình xây dựng một Nhà nước, một hệ sinh thái thông tin và những công dân có năng lực xác định điều đáng tin cậy. Sự thật vẫn luôn là nền tảng, cần được bảo vệ bởi những thiết chế có trách nhiệm, được truyền tải bằng một hệ thống thông tin có uy tín và chứng minh hằng ngày bằng hiệu quả của hành động công. Giữ được niềm tin, vì thế, chính là giữ được một nguồn lực chiến lược của quốc gia.
PGS,TS Bùi Hoài Sơn