Thay vì phụ thuộc vào xuất khẩu, việc đầu tư vào chế biến sâu, xây dựng thương hiệu riêng hay phát triển trồng lúa giảm phát thải, lúa - tôm… được kỳ vọng giúp gia tăng giá trị hạt lúa, tăng thu nhập cho nông dân.
Từ hạt lúa nguyên liệu đến sản phẩm gạo có thương hiệu
Vừa được công nhận danh hiệu “Nông dân Việt Nam xuất sắc 40 năm đổi mới”, anh Trầm Minh Thuần - Chủ tịch HĐQT kiêm Giám đốc HTX Nông nghiệp Long Hiệp (xã Long Hiệp, tỉnh Vĩnh Long) - vẫn trăn trở với bài toán thu nhập của người trồng lúa.
Tốt nghiệp thạc sĩ ngành Luật Kinh tế, anh Thuần trở về quê gắn bó với đồng ruộng, với mong muốn cùng nông dân tìm cách nâng giá trị cây lúa. Tuy nhiên, giá lúa nhiều năm biến động khiến thu nhập của người sản xuất vẫn thiếu ổn định.
Hiện HTX Nông nghiệp Long Hiệp có 72 hộ, canh tác khoảng 150ha, phần lớn xã viên sở hữu dưới 1ha đất sản xuất. Với năng suất bình quân 4-5 tấn/ha và giá lúa tươi khoảng 6.000-6.100 đồng/kg, phần lợi nhuận còn lại cho nông dân không nhiều.
“Nếu chỉ trồng lúa rồi bán lúa tươi thì lợi nhuận không đủ để bà con trang trải cuộc sống. Nhiều hộ phải kết hợp chăn nuôi, làm thuê… để có thêm thu nhập”, anh Thuần chia sẻ.
Anh Trầm Minh Thuần (áo xanh) hướng dẫn bà con nông dân áp dụng quy trình trồng lúa giảm phát thải (Ảnh: Nam Bình).
Từ thực tế đó, HTX Long Hiệp xác định việc chỉ bán lúa nguyên liệu khiến nông dân khó chủ động về giá và phần lớn giá trị gia tăng nằm ở các khâu sau thu hoạch. Hướng đi được lựa chọn là nâng chất lượng sản phẩm, từng bước tham gia chế biến và đưa gạo trực tiếp đến người tiêu dùng.
Trên khoảng 20ha sản xuất theo mô hình lúa - tôm, kết hợp nuôi tôm càng xanh và trồng lúa hữu cơ, HTX sử dụng lúa để chế biến thành gạo ST25, xây dựng thương hiệu riêng, đóng gói loại 5kg và phân phối qua các kênh thương mại điện tử.
“Nếu bán lúa tươi chỉ được giá 6.000-7.000 đồng/kg thì khi xay xát, đóng gói và bán trực tiếp, gạo thành phẩm có thể đạt khoảng 30.000 đồng/kg. Cách làm này giúp giảm bớt phụ thuộc vào thị trường xuất khẩu và cải thiện phần nào thu nhập cho nông dân”, anh Thuần nói.
Dù sản lượng hiện chưa lớn, mô hình cho thấy khả năng giữ lại một phần giá trị ở khâu chế biến và thương mại thay vì dừng ở việc bán lúa nguyên liệu. Tuy nhiên, theo anh Thuần, để bán được gạo với giá trị cao hơn, sản phẩm không chỉ cần chất lượng mà còn phải tạo được sự khác biệt.
Một trong những lợi thế của HTX là mô hình lúa - tôm. Người dân vừa nuôi tôm càng xanh, vừa trồng lúa nên phải hạn chế phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật để duy trì môi trường phù hợp cho cả tôm và lúa.
“Chính quy trình này tạo ra sự khác biệt cho hạt gạo so với phương thức canh tác thông thường”, anh Thuần cho biết.
Với diện tích sản xuất lúa đại trà, HTX cũng đang chuyển dần sang sử dụng các giống lúa thơm, giống xác nhận, đồng thời giảm lượng giống gieo sạ, phân bón và thuốc bảo vệ thực vật, hướng tới quy trình sản xuất giảm phát thải.
Nông dân chăm sóc ruộng lúa - tôm ở xã Long Hiệp, tỉnh Vĩnh Long (Ảnh: Nam Bình).
Mục tiêu dài hạn là từng bước mở rộng diện tích lúa hữu cơ và tăng tỷ lệ lúa được chế biến thành sản phẩm gạo mang thương hiệu của HTX thay vì bán ngay sau thu hoạch.
“Dần dần, bà con sẽ hướng tới mở rộng diện tích sản xuất lúa hữu cơ, tăng lượng lúa đưa vào chế biến thành gạo có thương hiệu để nâng thu nhập. Nhưng để làm được điều đó vẫn cần thêm nhiều thời gian”, anh Thuần nói.
Giảm phát thải, giảm chi phí để tăng thu nhập
Ông Nguyễn Văn Thành, Giám đốc Công ty TNHH Sản xuất - thương mại Phước Thành IV (tỉnh Vĩnh Long), cho biết đầu ra lúa gạo đang chịu nhiều sức ép. Khách hàng thường thận trọng hơn với chất lượng gạo vụ hè thu, trong khi nhu cầu từ Philippines thời gian qua chậm lại và một số thị trường điều chỉnh chính sách nhập khẩu.
Ở phía doanh nghiệp, áp lực cũng gia tăng khi vốn ngân hàng giải ngân chậm, lượng hàng tồn kho còn lớn, lãi suất ở mức cao trong khi biên lợi nhuận của ngành gạo vốn không lớn.
Theo ông Thành, trong bối cảnh này, cần ưu tiên nguồn vốn cho các doanh nghiệp có năng lực thu mua, dự trữ và xuất khẩu. Khi dòng vốn được giải ngân kịp thời, doanh nghiệp có thể tăng mua lúa vào thời điểm thu hoạch rộ, qua đó hỗ trợ đầu ra cho nông dân và giảm áp lực bán lúa ngay sau thu hoạch.
Ở góc độ dài hạn, PGS.TS Bùi Bá Bổng - nguyên Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường), nguyên Chủ tịch Hiệp hội Ngành hàng lúa gạo Việt Nam (VIETRISA) - cho rằng ngành lúa gạo cần đồng thời thích ứng với biến động thị trường, chi phí đầu vào và biến đổi khí hậu.
Một trong những hướng đi quan trọng là tiếp tục triển khai Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp tại ĐBSCL. Trọng tâm của mô hình là giảm lượng giống gieo sạ, phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật và nước tưới.
Theo ông Bổng, lợi ích của cách làm này không chỉ nằm ở việc giảm phát thải. Khi lượng vật tư đầu vào được tiết giảm mà năng suất vẫn được duy trì hoặc cải thiện, chi phí sản xuất giảm và phần lợi nhuận giữ lại cho nông dân sẽ tăng lên.
Kết quả từ một số mô hình cho thấy chi phí sản xuất có thể giảm 8-24%, trong khi năng suất vẫn tăng và thu nhập của nông dân có thể tăng tới 50%. Điều này cho thấy sản xuất lúa phát thải thấp có thể trở thành một giải pháp kinh tế trực tiếp, thay vì chỉ được nhìn nhận dưới góc độ môi trường.
Các mô hình trồng lúa giảm phát thải, mô hình lúa - tôm... được kỳ vọng giúp giảm chi phí đầu vào, tăng thu nhập cho bà con nông dân (Ảnh: Nam Bình).
Ông Bổng dẫn chứng năm 2025, Việt Nam lần đầu chứng nhận và xuất khẩu gạo mang nhãn “phát thải thấp”, với hơn 70.000 tấn được cấp nhãn và diện tích chứng nhận vượt 18.000ha.
Quy mô này còn nhỏ so với tổng diện tích và sản lượng lúa gạo cả nước, song theo ông, đây là bước thử nghiệm quan trọng để hình thành một phân khúc gạo có tiêu chuẩn và giá trị gia tăng cao hơn.
Để “gạo xanh” thực sự tạo ra giá trị thương mại, vấn đề không chỉ nằm ở nhãn dán trên bao bì. Sản phẩm phải đi kèm hệ thống tiêu chuẩn, dữ liệu sản xuất, chứng nhận và khả năng truy xuất nguồn gốc, đồng thời cần được tổ chức trên quy mô đủ lớn để tạo nguồn cung ổn định cho thị trường.
Theo ông Bổng, chuỗi tiêu thụ lúa gạo cũng cần được tổ chức lại theo hướng minh bạch và chuyên nghiệp hơn.
“Đối với hệ thống tiêu thụ, cần có chính sách để lực lượng "cò lúa", lái lúa chính thức trở thành tác nhân trong chuỗi giá trị. Đồng thời, hỗ trợ hợp tác xã nâng cao năng lực hoạt động như một doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh lúa gạo”, ông đề xuất.
Bên cạnh vùng lúa chất lượng cao, phát thải thấp, Việt Nam cũng có thể phát triển các vùng lúa sinh thái và lúa đặc sản dựa trên lợi thế từng khu vực. Tại ĐBSCL, một trong những hướng đi được ông Bổng đề cập là mở rộng vùng luân canh tôm - lúa hữu cơ theo quy mô lớn.
“Về lâu dài, bài toán của nông dân không chỉ là làm sao sản xuất được nhiều lúa hơn mà là làm sao giữ lại nhiều giá trị hơn từ hạt lúa. Khi đó, thu nhập của nông dân mới được cải thiện”, ông Bổng nói.