Bỏ qua điều hướng

Từ những nếp gấp của thời gian

Từ những nếp gấp của thời gian
Nguồn ảnh: Nhân Dân

“Nếp gấp của chiều”, tập thơ của Thy Nguyên (NXB Văn học, 2026) nên được đọc như một trường lực hơn là một chuỗi bài lẻ. Ở đó, thời gian không trôi mà dồn lớp; không mang độ dài mà mang độ dày của thân phận. Ký ức không nằm lại mà liên tục trồi lên. Và cái tôi, thay vì đóng khép, luôn mở ra nhiều “t...

Ở Mù Cang Chải, “sóng lúa bện sóng người uống sóng thời gian”. Thời gian được gieo xuống đất, mọc lên thành mùa màng, từ mùa màng đi vào ký ức rồi trở lại thân thể người. Bởi thế, “ngữ liệu của tháng năm” không phải kho lưu niệm mà là phần đời gửi vào người viết như một văn bản chưa hoàn tất, buộc người viết phải học cách “đọc biểu đồ” đời, đọc thời tiết bên ngoài để nhận ra những “bão lòng” bên trong. “Uống sóng thời gian” chính là cách hấp thụ, chuyển hóa đời sống thành kinh nghiệm và ngôn từ.

Trong vùng chập chờn giữa “bản năng” - “bản ngã”, thơ sinh ra từ một khoảng căng. Bản năng thèm yêu khát sống, muốn “gieo một mầm xanh giữa những khe nứt của giáo điều”. Bản ngã muốn tiết chế và xác lập nhân vị. Cái tôi ấy không sống trước thời gian, mà sống trong “nếp gấp” của thời gian.

Từ những ký ức và thương tổn, chủ thể thơ đi đến xác quyết: “em tắm nghi lễ đời mình”, “cuộn tóc, điểm son, cời mình lộng lẫy”, “mượn mùi già năm trước/tắm lại chuỗi ngày xuân non”. “Tắm” không còn là sinh hoạt đời thường mà thành hành động thanh tẩy, tái lập, gọi lại chính mình.

“Chỉ có những vết thương đã lên da non nhưng vẫn biết hát” có thể xem như một tuyên ngôn thẩm mỹ. Nỗi đau không bị phủ nhận; nó bung bật thành xung lực sáng tạo. Cái tôi ở đây không tự coi mình là trung tâm thế giới, mà chỉ thực hiện quyền tự cứu rỗi đời sống bản thân.

Tuy nhiên, cánh cửa căn phòng đẹp cá nhân luôn biết mở ra: Với mẹ, cha, làng, quê hương, những phận người, lịch sử, đất, núi, biển và những người lính giữ đất canh trời. “Sông dạy người xưa cách ngăn dòng để sống/và dạy ta cách mở lòng để yêu”. Lúc này, cái tôi “như bài thơ tự do”, đi qua nhiều giọng, nhiều vùng, nhiều thân phận. Sông Hồng là lịch sử; Truông Bồn là chứng tích chiến tranh; Mù Cang Chải là “phúc lành của đất”; biên giới là trách nhiệm; biển là “định mệnh hiện sinh”... Những nơi đã qua, những người đã gặp đều trở thành miền yêu thương để cái tôi ký gửi tâm hồn mình.

Vậy nên, "ngàn tọa độ” không làm cái tôi phân mảnh, mà tạo nên một bản đồ thuộc về. Cái tôi càng đi xa khỏi trung tâm bản thể càng “bám rễ” sâu vào đời sống, vào nhân quần.

“Bình yên” không đến sau giông bão. Nó xuất hiện ngay trong giông bão, như dáng người canh sương giữa “đỉnh gió”. Đó là thứ bình yên của chủ thể sống biết gạn buồn tìm vui, biết đem sự “bao dung”, “ấm áp” để đối đãi với mình, với đời.

Hành trình của “Nếp gấp của chiều” không phải từ cái tôi đến xóa bỏ cái tôi, mà từ một cái tôi bị thời gian gấp lại đến một cái tôi biết tự mở mình ra, để đi từ “khóc ký ức” đến “đau cố hương”, “xót rừng già”, “thương biển lớn”. Không là ủi nếp gấp, không chạy khỏi vết thương, mà “học cách nuốt vào”, biến chúng thành đất sống, để “chừa lại một chỗ/cho bóng mình ngồi”. Đi qua những đa đoan đa sự, cái tôi tìm về “sự giản đơn”, để an nhiên.

Cũng như thơ, sau vật vã “cách tân”, trở về với sự thân gần, xanh tươi, như “lúa sắn ngô khoai gieo sống gieo cười”.

HOÀNG ĐĂNG KHOA

“Nếp gấp của chiều”, tập thơ của Thy Nguyên do NXB Văn học ấn hành năm 2026, gợi ra một trường lực nghệ thuật nơi thời gian không trôi theo tuyến tính mà dồn lớp, tạo nên độ dày của ký ức và thân phận. Trong cấu trúc ấy, những trải nghiệm đã qua liên tục trở lại, buộc chủ thể trữ tình phải “đọc biểu đồ” đời sống bên ngoài để nhận diện những “bão lòng” bên trong. Hình ảnh “sóng lúa bện sóng người uống sóng thời gian” tại Mù Cang Chải cho thấy thời gian được gieo vào đất, kết thành mùa màng, thấm vào ký ức rồi trở về với thân thể. Thơ hình thành trong sức căng giữa “bản năng” thèm yêu, khát sống và “bản ngã” muốn tiết chế, xác lập nhân vị. Bởi vậy, hành động “tắm” trong các câu thơ “em tắm nghi lễ đời mình”, “mượn mùi già năm trước/tắm lại chuỗi ngày xuân non” mang ý nghĩa thanh tẩy, tái lập và gọi lại chính mình. Tuyên ngôn “chỉ có những vết thương đã lên da non nhưng vẫn biết hát” cô đọng quan niệm thẩm mỹ của Thy Nguyên: nỗi đau không bị phủ nhận mà được chuyển hóa thành năng lượng sáng tạo. Quyền tự cứu rỗi của cái tôi không dẫn đến sự đóng kín, bởi cánh cửa đời tư vẫn mở về phía mẹ, cha, làng quê, lịch sử, những phận người và người lính giữ đất canh trời. Từ Sông Hồng, Truông Bồn đến Mù Cang Chải, biên giới và biển, “ngàn tọa độ” hợp thành một bản đồ thuộc về, giúp chủ thể càng đi xa bản thể càng bám rễ sâu vào cộng đồng. Hành trình của tập thơ vì thế không nhằm xóa bỏ cái tôi, mà mở một cái tôi từng bị thời gian gấp lại để đi từ “khóc ký ức” đến “đau cố hương”, “xót rừng già”, “thương biển lớn”. Bình yên không chờ giông bão qua đi, mà hiện diện ngay giữa “đỉnh gió”, trong khả năng gạn buồn tìm vui và đối đãi với đời bằng bao dung, ấm áp. Sau những vật vã cách tân, thơ trở về sự giản dị, thân gần như “lúa sắn ngô khoai gieo sống gieo cười”, đồng thời giữ lại một khoảng lặng “cho bóng mình ngồi”.