Lãi suất tăng, doanh nghiệp chịu sức ép
Ngày 28/8/2026, một doanh nghiệp bất động sản tại Hà Nội hoàn tất thủ tục thế chấp tài sản để vay 57 tỷ đồng trong thời hạn 9 tháng. Khoản vay được giải ngân với lãi suất ưu đãi 10,6%/năm. Một tháng sau, doanh nghiệp nhận thông báo điều chỉnh lãi suất. Mức lãi mới là 15,3%/năm.
Chỉ trong một lần điều chỉnh, chi phí vốn tăng thêm 4,7 điểm phần trăm, tương đương khoảng 44% so với mức lãi suất ban đầu. Với khoản vay 57 tỷ đồng, doanh nghiệp phải trả thêm gần 223 triệu đồng tiền lãi mỗi tháng.
Nhưng điều khiến doanh nghiệp lo lắng không chỉ là khoản tiền phát sinh. Đó là câu hỏi: nếu đây mới chỉ là lần điều chỉnh đầu tiên, lãi suất sẽ còn đi đến đâu trong những tháng còn lại của hợp đồng? Trong khi thị trường bất động sản giao dịch chậm, việc thanh khoản sản phẩm để thu hồi vốn khó khăn, doanh nghiệp cũng không thể tăng giá bán để bù phần chi phí lãi vay phát sinh.
Lãi suất tăng không dừng ở những bảng niêm yết của ngân hàng mà đi thẳng vào chi phí, lợi nhuận và cả những quyết định sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
Nhìn từ phía ngân hàng, làn sóng tăng lãi suất cuối năm không hoàn toàn khó lý giải. Kinh tế 9 tháng năm 2026 tăng trưởng 9,01%; tín dụng tăng 11,59% vào cuối tháng 9, trong khi huy động vốn chỉ tăng 9,78%. Sự lệch pha này tạo sức ép thanh khoản, buộc các ngân hàng phải cạnh tranh mạnh hơn để giữ và thu hút tiền gửi.
Sức ép đã thể hiện trên mặt bằng lãi suất. Ở nhóm ngân hàng tư nhân, lãi suất tiền gửi 12 tháng được niêm yết 7,1%/năm tại Bac A Bank, 7,2% tại LPBank và Saigonbank, 7,5% tại Sacombank. Với những khoản tiền gửi lớn hoặc đáp ứng điều kiện riêng, lãi suất thực tế có thời điểm lên 9-10%/năm. Ở chiều cho vay, lãi suất bình quân tại Techcombank là 11,2%/năm, OCB 10,94%, BVBank 10,8%, Viet A Bank 10,76%, Bac A Bank 10,5% và TPBank 10,47%. Chi phí vốn không còn là sức ép ở phía huy động mà đã hiện rõ trong giá vốn doanh nghiệp phải trả.
Những tín hiệu tích cực
Áp lực huy động vốn khó giảm ngay khi nhu cầu tín dụng đang tăng nhanh. PSI Research cho rằng cạnh tranh nguồn vốn giữa các ngân hàng còn cao trong ngắn hạn. Trong khi đó, Thông tư 50/2026/TT-NHNN nâng giới hạn LDR từ 85% lên 95%, giúp giảm bớt áp lực thanh khoản trước mắt nhưng không loại bỏ nhu cầu tăng nguồn vốn ổn định trong dài hạn khi hệ thống tiến tới các chuẩn mực Basel III. Nói cách khác, ngân hàng cũng đang đứng trước bài toán chi phí vốn. Nhưng từ góc độ nền kinh tế, vấn đề quan trọng hơn là chi phí ấy được truyền sang doanh nghiệp với tốc độ và mức độ nào.
Khi thời gian ưu đãi kết thúc, lãi suất cho vay thả nổi thường được tính trên lãi suất cơ sở cộng biên độ. Chi phí tài chính tăng nhanh có thể bào mòn trực tiếp lợi nhuận, nhất là với doanh nghiệp chế biến, chế tạo, bán lẻ và xây dựng. Trong khi đó, doanh nghiệp không dễ tăng giá bán để bù chi phí bởi sức mua chưa đồng đều, thị trường cạnh tranh và nhiều đơn hàng xuất khẩu đã chốt giá.
Cuối năm, sức ép càng rõ khi nhu cầu vốn lưu động tăng để nhập nguyên liệu, thanh toán công nợ, trả lương và thưởng. Nếu chi phí vốn quá cao, doanh nghiệp có thể phải thu hẹp sản xuất hoặc trì hoãn kế hoạch đầu tư. TS Cấn Văn Lực, chuyên gia kinh tế ngân hàng lưu ý chi phí tài chính gia tăng có thể khiến doanh nghiệp thận trọng hơn với vay vốn, đầu tư và mở rộng sản xuất, qua đó tác động tới động lực tăng trưởng chung.
Trong bối cảnh đó, chỉ đạo của Thủ tướng Lê Minh Hưng về giảm thực chất lãi suất cho vay, chia sẻ khó khăn với người dân và doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng. Thủ tướng yêu cầu các ngân hàng tiết giảm chi phí, đẩy mạnh chuyển đổi số để tạo dư địa giảm lãi suất 1-2%/năm; đồng thời ưu tiên vốn cho sản xuất, xuất khẩu, công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ, nông nghiệp và đổi mới sáng tạo, đơn giản hóa thủ tục, tháo gỡ vướng mắc về tài sản bảo đảm để doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa dễ tiếp cận vốn hơn.
Ngân hàng Nhà nước đang cụ thể hóa định hướng này bằng các giải pháp hỗ trợ thanh khoản, yêu cầu ngân hàng triển khai các chương trình tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa với lãi suất thấp hơn tối thiểu 1%/năm so với mức cho vay bình quân, đồng thời tăng cường kỷ luật thị trường.
Các ngân hàng thương mại cũng đã có những động thái chia sẻ. HDBank triển khai gói tín dụng 10 nghìn tỷ đồng với lãi suất cố định 7,1%/năm cho khoản vay bổ sung vốn lưu động kỳ hạn tối đa 6 tháng. BIDV công bố gói 50 nghìn tỷ đồng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh trong các lĩnh vực ưu tiên, với lãi suất giảm 1-1,5 điểm phần trăm so với thông thường.
Đây là những tín hiệu tích cực, nhưng chưa thể giải quyết toàn bộ bài toán nếu chi phí huy động vẫn cao. Vì vậy, yêu cầu đặt ra không chỉ là giảm lãi suất, mà giảm chi phí vốn một cách bền vững, đồng thời giữ an toàn cho hệ thống.
Nếu giảm lãi suất quá nhanh khi áp lực tỷ giá, lạm phát và thanh khoản vẫn hiện hữu, rủi ro có thể quay trở lại. Nhưng nếu để chi phí vốn cao quá lâu, sức khỏe doanh nghiệp sẽ bị bào mòn. Bài toán hợp lý là giảm chi phí vốn có mục tiêu, ưu tiên những khu vực tạo ra năng lực sản xuất và tăng trưởng thực.
Với doanh nghiệp, vốn rẻ là chưa đủ; quan trọng không kém là phải dự đoán được chi phí vốn trong suốt thời gian vay. Cùng với việc giảm lãi suất, cơ chế điều chỉnh lãi suất cũng cần minh bạch để doanh nghiệp biết rõ mức ưu đãi ban đầu, công thức điều chỉnh, biên độ và những yếu tố có thể làm chi phí vốn thay đổi.
Giải bài toán vốn như thế nào?
Nhưng bài toán vốn của nền kinh tế không thể giải quyết chỉ bằng cách yêu cầu ngân hàng hạ lãi suất.
Tổ chức tín dụng quốc tế IFC lưu ý tỷ lệ tín dụng/GDP của Việt Nam đã xấp xỉ 150%, cho thấy hệ thống ngân hàng không thể mãi gánh toàn bộ nhu cầu vốn trung và dài hạn của nền kinh tế. Thị trường trái phiếu doanh nghiệp, các quỹ đầu tư và nguồn vốn quốc tế cần được phát triển lành mạnh để chia sẻ gánh nặng với hệ thống ngân hàng.
Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, cách cho vay dựa trên dòng tiền và khả năng trả nợ, thay vì chỉ dựa vào tài sản thế chấp, cũng cần được mở rộng. Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam đề xuất nghiên cứu thí điểm ngân hàng số chuyên biệt cho doanh nghiệp nhỏ và vừa và hộ kinh doanh, nhằm giảm chi phí vận hành và đánh giá dòng tiền tốt hơn.
Đây là hướng đi cần thiết, bởi một nền kinh tế muốn tăng trưởng cao không thể chỉ dựa vào việc mở rộng tín dụng. Điều quan trọng hơn là có một cấu trúc tài chính đủ đa dạng để doanh nghiệp có thể lựa chọn nguồn vốn phù hợp với quy mô, kỳ hạn và khả năng tạo dòng tiền.
Làn sóng tăng lãi suất cuối năm 2026 phản ánh một nghịch lý: nền kinh tế đang tăng trưởng nhanh, nhu cầu vốn tăng mạnh, nhưng nguồn tiền huy động không theo kịp tốc độ tín dụng. Tiền trở nên đắt hơn đúng vào lúc doanh nghiệp cần tiền nhất.
Vì thế, mục tiêu của chính sách không chỉ là bảo đảm doanh nghiệp tiếp cận được vốn, mà phải kiểm soát chi phí vốn ở mức hợp lý, để đồng vốn không trở thành gánh nặng đối với sản xuất, kinh doanh.
Những chỉ đạo của Thủ tướng, giải pháp của Ngân hàng Nhà nước và các chương trình tín dụng của ngân hàng thương mại đang mở thêm dư địa cho doanh nghiệp. Tuy nhiên để chính sách đi vào thực chất, điều quan trọng là chi phí vốn thực tế phải giảm và dễ dự đoán hơn.
TS Cấn Văn Lực nhấn mạnh, về phía doanh nghiệp, đây cũng là lúc phải nâng chất lượng quản trị vốn, kiểm soát dòng tiền, tái cấu trúc nợ, cân nhắc kỹ hơn các quyết định đầu tư, nâng hiệu quả hoạt động và chủ động tìm kiếm thêm những nguồn vốn ngoài ngân hàng.
Trong môi trường chi phí vốn cao, tiếp cận được vốn mới chỉ là điều kiện cần. Điều quan trọng hơn là doanh nghiệp phải sử dụng đồng vốn hiệu quả, tạo ra đủ giá trị để bù đắp chi phí tài chính và duy trì sức cạnh tranh. Với một nền kinh tế đang đặt mục tiêu tăng trưởng cao, hiệu quả sử dụng vốn vì thế không chỉ là câu chuyện của từng doanh nghiệp, mà còn là một phần của chất lượng tăng trưởng.
Chu Minh