Bỏ qua điều hướng

Vay 121 tỷ, nợ đội lên gần 200 tỷ rồi được chốt giảm còn 125 tỷ

Vay 121 tỷ, nợ đội lên gần 200 tỷ rồi được chốt giảm còn 125 tỷ
Nguồn ảnh: VietnamNet

Từ khoản vay gốc 121 tỷ đồng, sau hơn một thập kỷ, tổng nghĩa vụ thanh toán của một doanh nghiệp tại Hà Nội bị đội lên gần 197,5 tỷ đồng. Tại phiên phúc thẩm, các bên thỏa thuận chốt nghĩa vụ thanh toán ở mức 125 tỷ đồng, chia thành 9 đợt.

Từ khoản vay 121 tỷ đến khoản nợ gần 197,5 tỷ đồng

Công ty TNHH H. (Hà Nội) vay vốn tại Ngân hàng T. - Chi nhánh H. theo hai hợp đồng tín dụng.

Hợp đồng thứ nhất được ký ngày 31/10/2011 với số tiền vay 117 tỷ đồng, để góp vốn đầu tư vào dự án Khu B-Đ, thời hạn vay 12 tháng kể từ ngày giải ngân khoản vay đầu tiên. Ngân hàng T. đã giải ngân hai lần, tổng cộng 117 tỷ đồng.

Hợp đồng thứ hai ký ngày 29/6/2012, số tiền vay 4 tỷ đồng, mục đích thanh toán tiền tạm ứng thi công xây dựng. Khoản vay này được ngân hàng giải ngân một lần.

Tổng số tiền Công ty H. vay theo hai hợp đồng là 121 tỷ đồng.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty H. không có khả năng thanh toán đầy đủ, đúng hạn nên có văn bản đề nghị ngân hàng cơ cấu lại thời hạn trả nợ. Ngân hàng đã nhiều lần đồng ý cơ cấu, gia hạn thời gian trả nợ và điều chỉnh lịch trả lãi, trả gốc.

Đáng chú ý, với khoản vay 117 tỷ đồng, các bên đã nhiều lần sửa đổi, bổ sung hợp đồng từ năm 2012 đến năm 2014. Đến thỏa thuận năm 2014, thời hạn trả lãi được gia hạn đến ngày 31/3/2016, còn dư nợ gốc được cam kết trả theo từng đợt trong năm 2015 và phần còn lại chậm nhất đến ngày 31/3/2016.

Đối với khoản vay 4 tỷ đồng, ngân hàng cũng gia hạn thời gian trả nợ gốc đến ngày 1/7/2014, sau đó tiếp tục gia hạn toàn bộ lãi đến ngày 31/3/2016.

W-doanh nghiep vay tien.jpg
Từ khoản vay gốc 121 tỷ của một doanh nghiệp ở Hà Nội bị đội lên gần 197,5 tỷ đồng sau hơn một thập kỷ, nhưng cuối cùng chỉ phải trả 125 tỷ đồng. Ảnh minh họa: Nam Khánh

Theo ngân hàng, dù đã nhiều lần cơ cấu nợ để tạo điều kiện cho Công ty H. tiếp tục kinh doanh, doanh nghiệp vẫn không thanh toán đầy đủ và đúng hạn.

Tổng số tiền Công ty H. đã thanh toán theo các hợp đồng được phía ngân hàng xác định là hơn 131,7 tỷ đồng, gồm hơn 84 tỷ đồng tiền gốc và hơn 47,6 tỷ đồng tiền lãi.

Sau đó, ngân hàng tiếp tục có các phương án cơ cấu nợ. Theo Công ty H., ngày 15/3/2017, Ngân hàng T. ban hành nghị quyết về cơ cấu lại khoản nợ, xác định doanh nghiệp còn nợ gốc hơn 112,4 tỷ đồng và 35 tỷ đồng tiền lãi.

Đến ngày 27/11/2020, ngân hàng tiếp tục thông qua phương án trả nợ. Theo phương án này, tổng số nợ được xác định hơn 95,5 tỷ đồng, trong đó nợ gốc hơn 56,1 tỷ đồng.

Đến ngày 31/3/2022, Công ty H. thanh toán thêm 10 tỷ đồng tiền gốc. Ngày 12/3/2024, doanh nghiệp tiếp tục thanh toán 5 tỷ đồng, đưa dư nợ gốc xuống còn hơn 36,9 tỷ đồng theo trình bày của công ty.

Tuy nhiên, phía ngân hàng cho rằng Công ty H. vẫn tiếp tục vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên khoản vay được chuyển sang nợ quá hạn.

Ngày 27/7/2023, Ngân hàng T. bán khoản nợ của Công ty H. cho Công ty CP M., sau đó công ty này lại bán khoản nợ cho Công ty TNHH MTV Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) theo các hợp đồng mua bán nợ.

Tạm tính đến ngày 9/6/2025, phía nguyên đơn yêu cầu Công ty H. thanh toán tổng cộng hơn 197,4 tỷ đồng, bao gồm nợ gốc, nợ lãi trong hạn và nợ lãi quá hạn.

Do đó, nguyên đơn đề nghị TAND quận Nam Từ Liêm buộc Công ty H. thanh toán số tiền còn nợ nói trên.

Khoản nợ được các bên thỏa thuận còn 125 tỷ đồng

Tại bản sơ thẩm, TAND quận Nam Từ Liêm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH MTV Q., buộc Công ty H. thanh toán khoản nợ tạm tính đến ngày 9/6/2025 là hơn 197,4 tỷ đồng, cùng các khoản lãi phát sinh theo thỏa thuận cho đến khi thanh toán xong.

Bản án sơ thẩm cũng tuyên, nếu Công ty H. không trả hoặc trả không đủ nợ cho VAMC, VAMC có quyền đề nghị cơ quan thi hành án kê biên, phát mại tài sản bảo đảm là quyền sử dụng 592,1m2 đất tại thửa N5, Khu đô thị M., Hà Nội, theo giấy chứng nhận cấp cho Công ty H., cùng toàn bộ công trình và phần diện tích được cải tạo, xây dựng thêm gắn liền với tài sản thế chấp.

Nếu số tiền thu được từ xử lý tài sản không đủ trả nợ, Công ty H. vẫn phải tiếp tục thanh toán phần còn thiếu; nếu dư, khoản tiền còn lại được trả cho chủ sở hữu.

Không đồng ý với bản án sơ thẩm, Công ty H. kháng cáo, đề nghị cấp phúc thẩm hủy bản án. Ngoài đơn kháng cáo, công ty không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện các bên liên quan đã tự nguyện thỏa thuận về việc giải quyết vụ án và đề nghị HĐXX công nhận sự thỏa thuận này.

Ngày 27/8/2026, các bên lập biên bản thỏa thuận, theo đó Công ty H. xác nhận nghĩa vụ thanh toán tổng số tiền 125 tỷ đồng theo hai hợp đồng tín dụng. Khoản tiền này được thanh toán thành 9 đợt, từ tháng 9/2026 đến tháng 5/2027, theo lịch đã thống nhất.

Các khoản thanh toán được thực hiện trong khoảng từ ngày 25 đến ngày 30 hằng tháng bằng hình thức chuyển khoản hoặc nộp tiền vào tài khoản theo thỏa thuận của các bên.

Nếu Công ty H. vi phạm thỏa thuận tại bất kỳ đợt thanh toán nào, doanh nghiệp phải chịu lãi chậm trả 10%/năm trên tổng số tiền chưa thanh toán, tính từ ngày vi phạm đến khi trả xong khoản nợ.

Bên cạnh đó, Ngân hàng T. và Công ty CP M. có quyền đề nghị cơ quan thi hành án kê biên, phát mại tài sản bảo đảm nếu Công ty H. không thực hiện nghĩa vụ theo thỏa thuận.

HĐXX phúc thẩm nhận định các bên tự nguyện thỏa thuận để giải quyết toàn bộ vụ án, nội dung thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội. Căn cứ Điều 300 Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX công nhận sự thỏa thuận của các bên.

Theo quyết định của tòa phúc thẩm, bản án sơ thẩm được sửa, Công ty H. có nghĩa vụ thanh toán 125 tỷ đồng theo đúng lộ trình đã thống nhất.

(Bài viết dựa trên Bản án số 157/2026/KDTM-PT ngày 27/8/2026 của TAND TP Hà Nội).

Vụ việc tín dụng kéo dài hơn một thập kỷ giữa Công ty TNHH H. và Ngân hàng T. (Chi nhánh H.) phản ánh thực trạng phức tạp trong quá trình xử lý nợ xấu doanh nghiệp. Xuất phát từ hai hợp đồng ký kết trong giai đoạn 2011, 2012 với tổng giải ngân 121 tỷ đồng cho dự án Khu B-Đ và chi phí thi công, doanh nghiệp đã rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán đúng hạn. Dù tổ chức tín dụng nhiều lần đồng ý cơ cấu, gia hạn lịch trả nợ đến năm 2016, bên vay vẫn vi phạm cam kết khi tài chính không kịp phục hồi. Trong quá trình đồng hành cùng khách hàng, ngân hàng đã xác định số tiền Công ty H. thanh toán thực tế là hơn 131,7 tỷ đồng, bao gồm hơn 84 tỷ đồng tiền gốc và hơn 47,6 tỷ đồng tiền lãi. Các đợt cơ cấu nợ tiếp theo vào các năm 2017 và 2020 liên tục điều chỉnh số dư nợ gốc xuống còn hơn 56,1 tỷ đồng. Tính đến đầu năm 2024, doanh nghiệp trình bày đã nộp thêm các khoản tiền gốc, đưa dư nợ gốc thực tế xuống mức hơn 36,9 tỷ đồng. Tuy nhiên, do nghĩa vụ tài chính không được hoàn tất trọn vẹn, khoản nợ bị chuyển sang nhóm quá hạn và trở thành đối tượng mua bán nợ qua nhiều bên trung gian. Khoản vay lần lượt được chuyển nhượng cho Công ty CP M. và sau đó là Công ty TNHH MTV Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC). Đến tháng 6 năm 2025, bên nguyên đơn khởi kiện ra TAND quận Nam Từ Liêm, yêu cầu nghĩa vụ thanh toán tổng cộng hơn 197,4 tỷ đồng bao gồm cả gốc lẫn lãi phạt tích lũy. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bên liên quan đã đi đến thống nhất chung nhằm khép lại vụ kiện tài chính kéo dài. Phía nguyên đơn và Công ty H. thỏa thuận chốt tổng giá trị nghĩa vụ thanh toán ở mức 125 tỷ đồng, chia làm 9 đợt thực hiện. Thỏa thuận này giúp doanh nghiệp giảm bớt áp lực từ các khoản lãi phát sinh khổng lồ, đồng thời hỗ trợ chủ nợ thu hồi vốn một cách khả thi.