Bỏ qua điều hướng
•

Căn bệnh ung thư hàng đầu ở phụ nữ, nhóm tuổi nào cần tầm soát sớm?

Căn bệnh ung thư hàng đầu ở phụ nữ, nhóm tuổi nào cần tầm soát sớm?
Nguồn ảnh: VietnamNet

Ung thư vú là căn bệnh có số ca mắc mới cao nhất ở phụ nữ Việt Nam hiện nay. Việc chủ động tầm soát đúng thời điểm giúp phát hiện bệnh sớm và nâng cao đáng kể hiệu quả điều trị.

Tại buổi sinh hoạt chuyên đề do Cục Bảo vệ bà mẹ & Trẻ em (Bộ Y tế) vừa tổ chức, TS.BS Lê Thị Yến, Khoa Nội Quán Sứ, Bệnh viện K (Hà Nội), cho biết theo số liệu GLOBOCAN 2024, Việt Nam ghi nhận tới 25.711 ca ung thư vú mắc mới và 10.609 trường hợp tử vong.

Đây là căn bệnh chiếm tới 28,1% tổng số ca ung thư mới ở nữ giới, đứng đầu trong các loại ung thư thường gặp ở phụ nữ. Dù vậy, ung thư vú có thể được phát hiện từ giai đoạn sớm thông qua các phương pháp sàng lọc, trong đó chụp nhũ ảnh đóng vai trò chủ đạo. 

24 1482.png
Ung thư vú chiếm tỷ lệ hàng đầu trong các loại ung thư ở phụ nữ. Ảnh: VNN

Theo đó, để xác định lịch tầm soát phù hợp, bác sĩ sẽ khai thác kỹ các yếu tố nguy cơ của từng người. Các yếu tố này bao gồm tiền sử bản thân hoặc gia đình từng mắc ung thư vú, ung thư buồng trứng, vòi tử cung, phúc mạc; mang đột biến gene BRCA1/2, TP53; từng xạ trị vùng ngực trong độ tuổi 10-30; có tổn thương vú nguy cơ cao như tăng sản không điển hình.

Bên cạnh đó, mô vú đặc cũng là yếu tố quan trọng vì vừa gia tăng nguy cơ mắc bệnh, vừa khiến nhũ ảnh khó phát hiện tổn thương. Các thông tin về độ tuổi bắt đầu có kinh, tuổi sinh con đầu lòng, số lần mang thai và tuổi mãn kinh cũng được đưa vào mô hình đánh giá.

Dựa trên tổng nguy cơ mắc ung thư vú trong suốt cuộc đời, chị em phụ nữ được phân chia thành ba nhóm chính. Nhóm nguy cơ trung bình có tỷ lệ dưới 15% (trung bình khoảng 12,4%) và thường không sở hữu yếu tố nguy cơ lâm sàng rõ ràng.

Nhóm nguy cơ trung bình cao có tỷ lệ từ 15-20%, gồm những người có mẹ, chị em gái hoặc con gái mắc bệnh nhưng không mang hội chứng di truyền.

Cuối cùng là nhóm nguy cơ cao với tỷ lệ trên 20%. Nhóm này bao gồm người mang đột biến gene BRCA hoặc các gene nhạy cảm khác, người từng xạ trị vùng ngực trước 30 tuổi hoặc có tình trạng tăng sản không điển hình.

Tiến sĩ Yến nhấn mạnh, việc phân loại chính xác giúp mỗi phụ nữ chọn đúng thời điểm tầm soát.

Đặc biệt, nếu chị em xuất hiện các dấu hiệu dưới đây cần đi khám chuyên khoa sớm: 

Khối u cục: Sờ thấy u cứng, chắc, không mềm, ít di chuyển ở vùng ngực hoặc dưới nách.

Thay đổi hình dáng: Ngực bỗng nhiên to nhỏ bất thường, mất cân đối, bị xệ hoặc biến dạng lạ.

Bất thường ở da vú: Da vùng ngực bị co kéo, nhăn nheo, đỏ, sưng, nóng hoặc có vân sần sùi giống như vỏ quả cam.

Biến đổi núm vú: Núm vú bị tụt ngược vào trong, thay đổi hướng hoặc có dịch, mủ, máu chảy ra ngoài tự nhiên.

Cảm giác đau tức: Đau âm ỉ ở ngực, vùng nách, vai hoặc lưng trên kéo dài không rõ nguyên nhân.

Theo số liệu GLOBOCAN 2024 được TS.BS Lê Thị Yến, Bệnh viện K thông tin, Việt Nam ghi nhận 25.711 ca ung thư vú mắc mới cùng 10.609 ca tử vong. Căn bệnh này chiếm 28,1% tổng số ca ung thư mới ở nữ giới, giữ vị trí hàng đầu trong các bệnh lý ác tính ở phụ nữ. Phương pháp chụp nhũ ảnh đóng vai trò chủ đạo giúp phát hiện tổn thương từ giai đoạn sớm, nâng cao rõ rệt hiệu quả can thiệp y tế. Chiến lược tầm soát được xây dựng dựa trên việc phân tầng ba nhóm nguy cơ trong suốt cuộc đời. Nhóm nguy cơ trung bình dưới 15% không mang dấu hiệu lâm sàng đặc biệt, nhóm trung bình cao từ 15 đến 20% có người thân trực hệ mắc bệnh, còn nhóm nguy cơ cao trên 20% gắn liền với đột biến gene BRCA hoặc tiền sử xạ trị vùng ngực trước 30 tuổi. Các yếu tố như mô vú đặc, tiền sử thai sản và tuổi mãn kinh cũng được tính toán để chỉ định thời điểm chụp chiếu chuẩn xác. Bên cạnh lịch khám định kỳ, phụ nữ cần chủ động tới cơ sở chuyên khoa ngay khi phát hiện những biến đổi bất thường tại tuyến vú. Các triệu chứng cảnh báo bao gồm khối u cứng ít di chuyển, thay đổi kích thước ngực, da sần sùi dạng vỏ cam hoặc núm vú tụt và tiết dịch. Tình trạng đau âm ỉ kéo dài tại ngực, nách hoặc lưng trên cũng là dấu hiệu chỉ điểm cần được chẩn đoán kịp thời.
amung