Bỏ qua điều hướng
•

Chuyện về người vợ 52 năm giữ bài thơ về Anh hùng liệt sĩ Ngô Văn Nhỡ

Chuyện về người vợ 52 năm giữ bài thơ về Anh hùng liệt sĩ Ngô Văn Nhỡ
Nguồn ảnh: Thanh Niên

52 năm qua, bà Quách Thị Loan vẫn nhớ như in bài thơ viết trong chiến trường khi thăm chồng - Anh hùng liệt sĩ Ngô Văn Nhỡ, người đã hy sinh khoảng 2 giờ trước thời khắc đất nước toàn thắng.

Trong những ngày tháng 10, chúng tôi có dịp gặp lại bà Quách Thị Loan (trú xã Hiệp Hòa, Bắc Ninh) - người phụ nữ đã đi qua một thời đạn bom với nỗi đau riêng lặng lẽ. 

Ở tuổi gần 80, mái tóc đã bạc trắng, bà không còn nhớ rõ nhiều chuyện của những năm tháng cũ. Nhưng ký ức về người chồng liệt sĩ - Anh hùng Ngô Văn Nhỡ, vẫn vẹn nguyên, như một phần không thể tách rời trong cuộc sống thường ngày.

Chuyện về người vợ 52 năm giữ bài thơ về Anh hùng liệt sĩ Ngô Văn Nhỡ- Ảnh 1.

Bà Quách Thị Loan

ẢNH: ĐÌNH HUY

Suốt 52 năm qua, bà vẫn giữ những vần thơ viết về chuyến đi thăm chồng giữa những năm tháng chiến tranh. "Em đến thăm anh/Một chiều mùa hạ/Đường đi vất vả/Lội suối trèo non/Chim hót véo von/Lòng mừng phấn khởi/Hai tuần mới tới/Xe chết dọc đường/Giữa những vầng thương/Chiến trường anh đến/Đứng trên trận tuyến/Súng đạn đêm ngày/Các anh hăng say/Giữ từng tấc đất/Giành giật từng giây/Quảng Trị giờ đây/Thay da đổi thịt/Người đi đông nghịt/Mà không có anh".

Bố chồng bán trâu làm lộ phí vào chiến trường thăm chồng

Ngược lại thời gian, bà Loan kể, bà bắt đầu vào quân ngũ từ năm 20 tuổi, là bác sĩ quân y của tỉnh đội Hà Bắc. Trong khi đó, ông Nhỡ (người cùng quê bà Loan) là chiến sĩ của Trung đoàn xe tăng 203, đóng quân ở chiến trường Quảng Trị. Tháng 9.1973, ông Nhỡ được đơn vị cho về phép. Trong thời gian này, ông và bà Loan đã nên duyên vợ chồng sau vài năm tìm hiểu.

Cưới nhau được vài ngày, ông Nhỡ phải lập tức trở lại Quảng Trị, để lại người vợ một mình thấp thỏm lo nghĩ về tương lai.

Chuyện về người vợ 52 năm giữ bài thơ về Anh hùng liệt sĩ Ngô Văn Nhỡ- Ảnh 2.

Những bức thư ông Nhỡ gửi cho vợ

ẢNH: ĐÌNH HUY

Bà Loan cho biết, gia đình chồng cũng có hoàn cảnh rất đặc biệt khi có tới 12 người con (4 trai, 8 gái). Trong số 4 anh em trai thì có tới 3 người ra trận, trong đó, 2 người đã hy sinh là liệt sĩ Ngô Văn Hảo hy sinh năm 1968, chưa kịp lập gia đình và liệt sĩ Ngô Văn Đồng hy sinh năm 1973, chỉ để lại một mụn con gái. Ông Nhỡ là con thứ 2, vừa mới cưới vợ nên các cụ rất mong sẽ có đứa cháu trai để nối dõi tông đường.

Bởi vậy, khi chưa thấy tin vui từ con dâu, cụ Ngô Văn Lẫm - bố chồng bà Loan, quyết tâm động viên con vào chiến trường thăm chồng, bao giờ "có kết quả" mới về.

"Nói rồi, cụ lặng lẽ đi bán trâu, lúc đó là tài sản lớn nhất của gia đình để lấy tiền làm lộ phí cho tôi đi đường. Cụ dặn phải tuyệt đối giấu anh Nhỡ, chỉ bảo đó là "tiền của bố cho", bà Loan nói và cho hay, đầu năm 1974, bà đi theo xe tải của Trung đoàn 203 để vào Quảng Trị thăm chồng.

Mặc dù đi nhờ xe của đơn vị ông Nhỡ nhưng do đường xấu, chiếc xe đã cũ nên phải 2 tuần bà mới vào được nơi đóng quân của chồng tại Cửa Việt (Quảng Trị).

Chuyện về người vợ 52 năm giữ bài thơ về Anh hùng liệt sĩ Ngô Văn Nhỡ- Ảnh 3.

Bà Loan xúc động nhớ về khoảnh khắc gặp chồng ở chiến trường

ẢNH: ĐÌNH HUY

Bà Loan nhớ mãi khoảnh khắc hai người gặp nhau giữa chiến trường, đó là thời điểm ông Nhỡ đang họp được đồng đội gọi ra nhận khách. 

Khi nhìn thấy người vợ trẻ, ông ngỡ ngàng đứng hình "như phỗng". Còn bà Loan thì lại xúc động chân run đến nỗi không đứng vững rồi ngã ra nhưng rất may được ông Nhỡ đỡ được. Thế rồi, bà Loan nằm trọn vào lòng ông Nhỡ trong tiếng reo hò của đồng đội.

Những ngày sau đó, bà Loan được đơn vị bố trí cho "phòng hạnh phúc". Gọi là vậy nhưng đây là một phần của căn hầm chiến đấu, được gia cố bằng những bao cát, những tấm vải cũ và một số tờ báo.

Bà Loan cho rằng, hơn 2 tháng sống giữa chiến trường Cửa Việt là khoảng thời gian mà bà làm vợ đúng nghĩa. Ban ngày, ông Nhỡ tất bật với công việc chỉ huy ở một đơn vị sẵn sàng chiến đấu, còn bà Loan cặm cụi trồng rau, nuôi gà, nấu cơm chờ chồng trở về sau mỗi ngày làm việc. Thỉnh thoảng, bà Loan cũng làm thêm cơm để mời đồng đội của ông Nhỡ.

Đặc biệt, trong khoảng thời gian này, tin vui cũng đã đến với vợ chồng bà khi trong người bà đã xuất hiện mạch hỷ. Trước ngày bà Loan lên đường ra Bắc, người chiến sĩ nắm tay vợ dặn dò: "Nếu đẻ con trai thì đặt tên là Việt, con gái tên là Hà, để kỷ niệm mảnh đất Cửa Việt, Đông Hà đã gắn bó với đời quân ngũ".

Vượt qua nỗi đau để nuôi con khôn lớn

Khoảng tháng 3.1975, bà Loan sinh hạ con trai ở quê nhà Bắc Giang cũ, cách ngày đất nước trọn niềm vui chưa đầy 2 tháng. Thế nhưng, giữa niềm vui chung của dân tộc khi đất nước thống nhất, bà Loan lại nhận được tin dữ khi ông Nhỡ hy sinh ngay trước giờ đất nước toàn thắng khoảng 2 tiếng. Ban đầu, bà vẫn không tin và hy vọng bởi trong quá trình chiến đấu, ông vẫn thường xuyên viết thư gửi về nhà.

Thế nhưng, khoảng vài tháng sau, giấy báo tử và những kỷ vật ít ỏi từ mặt trận gửi về khiến bà chết lặng. Để rồi những ngày tháng sau đó dù không gào khóc nhưng bà Loan luôn mặc cảm, lặng lẽ chìm vào một nỗi đau thầm lặng. Bà dường như không nói chuyện với ai, cũng chẳng còn thiết tha bất cứ điều gì.

Chuyện về người vợ 52 năm giữ bài thơ về Anh hùng liệt sĩ Ngô Văn Nhỡ- Ảnh 4.

Bằng Tổ quốc ghi công của liệt sĩ Ngô Văn Nhỡ

ẢNH: PHAN HẬU

"Để nguôi đi nỗi nhớ chồng, tôi dành toàn tâm cho công việc và nuôi dạy con. Ở đơn vị, cứ xong giờ khám bệnh, châm cứu cho thương bệnh binh, tôi lại cầm cuốc ra chân núi phát cỏ, trồng rau, chăm đàn lợn cho đơn vị. Thấy tôi làm việc không nghỉ tay, suốt ngày thui thủi một mình đồng đội cũng lo lắng và động viên rất nhiều", bà Loan nhớ lại.

Sau nhiều năm vượt qua nỗi đau, một mình bà Loan đã nuôi dạy con trai Ngô Văn Việt khôn lớn, trưởng thành. Giờ đây, anh Việt là người đàn ông trụ cột của gia đình. Anh sinh được hai người con (con gái sinh năm 2002, con trai sinh năm 2006). Năm 1994, gia đình đã vào TP.HCM tìm kiếm và đưa hài cốt của liệt sĩ Ngô Văn Nhỡ về quy tập tại nghĩa trang quê nhà.

Đặc biệt, ngày 25.4.2013, Chủ tịch nước đã ký quyết định truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân đối với liệt sĩ Ngô Văn Nhỡ, nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn xe tăng 203, Quân đoàn 2, Bộ Quốc phòng đã có thành tích đặc biệt xuất sắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Chuyện về người vợ 52 năm giữ bài thơ về Anh hùng liệt sĩ Ngô Văn Nhỡ- Ảnh 5.
Chuyện về người vợ 52 năm giữ bài thơ về Anh hùng liệt sĩ Ngô Văn Nhỡ- Ảnh 6.

Anh Ngô Văn Việt cùng gia đình đón nhận danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân của liệt sĩ Ngô Văn Nhỡ

ẢNH: PHAN HẬU - GĐCC

"Mặc dù chưa bao giờ được gặp cha nhưng qua lời kể của đồng đội và những người thân trong gia đình, tôi cảm nhận được cha là người chỉ huy nghiêm khắc, giản dị nhưng vô cùng tình cảm. 

Sống trong gia đình có truyền thống cách mạng, tôi luôn cùng các con và tự dặn lòng phải sống gương mẫu, khiêm tốn để xứng đáng với công sức của thế hệ trước", anh Việt nhấn mạnh.

Theo lời kể của thiếu tá Nguyễn Hữu Cử, nguyên Chính trị viên Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn xe tăng 203, Quân đoàn 2 - đồng đội của Anh hùng liệt sĩ Ngô Văn Nhỡ, kể lại, ngày 30.4.1975, 5 cánh quân của ta tiến vào Sài Gòn. Trong đó, Tiểu đoàn 1 do ông Ngô Văn Nhỡ làm Tiểu đoàn trưởng được giao nhiệm vụ chủ công mở đường vào Sài Gòn. Xe tăng của ông Nhỡ dẫn đầu đội hình xe tăng này.

Khoảng 9 giờ sáng, tại chân cầu Sài Gòn, khi gặp phải kháng cự của địch, Tiểu đoàn trưởng Ngô Văn Nhỡ từ trong xe tăng mở nắp ra kiểm tra tình hình thì bị địch bắn trúng đầu và hy sinh ngay trên tháp pháo. Nhận được tin qua bộ đàm báo tiểu đoàn trưởng đã hy sinh, ông Cử và đồng đội hô hào tiến lên, đánh tan phòng tuyến của địch.

Hơn nửa thế kỷ trôi qua, bà Quách Thị Loan tại xã Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Ninh vẫn nâng niu ký ức về người chồng là Anh hùng liệt sĩ Ngô Văn Nhỡ, chiến sĩ thuộc Trung đoàn xe tăng 203 đã anh dũng ngã xuống ngay trước giờ phút non sông toàn thắng. Sau ngày cưới chớp nhoáng vào tháng 9 năm 1973, người chiến sĩ lập tức trở lại mặt trận Quảng Trị, để lại nỗi nhớ mong cùng sự hy vọng lớn lao của cả dòng họ nơi hậu phương. Gia đình cụ Ngô Văn Lẫm có bốn người con trai thì ba người ra trận và hai người đã hy sinh. Vì khao khát nối dõi tông đường, người cha già quyết định bán đi con trâu là tài sản lớn nhất để lấy lộ phí cho người con dâu nguyên là bác sĩ quân y vượt dặm dài vào tận chiến trường Cửa Việt. Chuyến đi ròng rã suốt hai tuần trên chiếc xe tải quân sự cũ kỹ đã trở thành chuyến hội ngộ định mệnh thấm đẫm ân tình thời lửa đạn. Khoảnh khắc vợ chồng gặp lại giữa căn cứ quân sự cùng những vần thơ mộc mạc ra đời trên tuyến lửa đã phản ánh trọn vẹn đức hy sinh thầm lặng của thế hệ đi trước. Từng dòng thơ của bà Loan ghi dấu nỗi vất vả lội suối trèo non và khắc họa nỗi trống vắng khôn nguôi khi quê hương thanh bình nhưng bóng người lính mãi mãi vắng xa. Câu chuyện là một lát cắt bi hùng, khẳng định giá trị thiêng liêng của tình yêu gia đình gắn liền với vận mệnh độc lập của Tổ quốc.
amung