Bỏ qua điều hướng

Công nghệ sinh thiết ung thư từ bên trong đường tiêu hóa

Công nghệ sinh thiết ung thư từ bên trong đường tiêu hóa
Nguồn ảnh: VnExpress

Siêu âm nội soi kết hợp sinh thiết lõi mô giúp bác sĩ tiếp cận khối u ở các vị trí khó của hệ tiêu hóa, lấy mẫu chẩn đoán chính xác và điều trị hiệu quả.

Công nghệ sinh thiết ung thư từ bên trong đường tiêu hóa

Thứ hai, 21/9/2026, 08:00 (GMT+7) Thứ hai, 21/9/2026, 08:00 (GMT+7) Công nghệ sinh thiết ung thư từ bên trong đường tiêu hóa

Siêu âm nội soi kết hợp sinh thiết lõi mô giúp bác sĩ tiếp cận khối u ở các vị trí khó của hệ tiêu hóa, lấy mẫu chẩn đoán chính xác và điều trị hiệu quả.

Sinh thiết là bước quan trọng để xác định bản chất khối u và lựa chọn phương pháp điều trị. Với các khối u sâu ở hệ tiêu hóa, gan - mật - tụy như u đầu tụy, u đường mật hay tổn thương trung thất, sinh thiết qua thành bụng thường khó do đường chọc dài và nguy cơ tổn thương mạch máu, cơ quan lân cận. Chụp cắt lớp vi tính (CT) hoặc chụp cộng hưởng từ MRI, giúp xác định vị trí tổn thương nhưng chưa đủ để khẳng định loại u. Muốn chẩn đoán chính xác, bác sĩ cần lấy mẫu mô để phân tích.

Bác sĩ đang nội soi siêu âm kết hợp sinh thiết chẩn đoán xác định ung thư cho người bệnh. Ảnh: Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP HCM

Theo TS.BS Phạm Hữu Tùng, Phó giám đốc Trung tâm Nội soi và Phẫu thuật Nội soi Tiêu hóa, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP HCM, để giải quyết bài toán trên, kỹ thuật siêu âm nội soi kết hợp sinh thiết lõi mô (EUS FNB) được bệnh viện ứng dụng và vừa báo cáo tại Hội nghị Khoa học quốc tế 2026 của bệnh viện, diễn ra vào 16-20/9. Kỹ thuật này giúp đưa đầu dò đến gần khối u ở các vị trí khó, nằm sâu từ bên trong đường tiêu hóa. Hình ảnh siêu âm được hiển thị theo thời gian thực giúp bác sĩ xác định khối u, tránh mạch máu và theo dõi kim khi lấy mẫu. Kim FNB thu được lõi mô còn nguyên cấu trúc, hỗ trợ xác định bản chất tổn thương và lựa chọn hướng điều trị.

Điển hình ca bệnh nhân Thành, 62 tuổi. Ông đến Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP HCM sau một tháng đau âm ỉ vùng thượng vị và sụt khoảng 10 kg. Kết quả CT phát hiện khối đặc gần 3 cm ở đầu tụy, kèm giãn ống tụy và đường mật. Tuy nhiên, hình ảnh chưa đủ để xác định loại tổn thương.

Bác sĩ chỉ định EUS FNB. Ống nội soi được đưa qua miệng vào đường tiêu hóa để đầu dò tiến sát tuyến tụy. Dựa trên hình ảnh theo thời gian thực, bác sĩ xác định khối u, chọn hướng đưa kim an toàn và lấy mẫu mô. Đầu dò được đặt trong dạ dày hoặc tá tràng, nhờ đó bác sĩ quan sát tuyến tụy ở cự ly gần. Vị trí đầu dò và đường chọc kim được điều chỉnh theo vị trí khối u và giải phẫu của bệnh nhân.

"Khác với hình ảnh CT được ghi nhận trước thủ thuật, siêu âm nội soi cung cấp hình ảnh liên tục khi bác sĩ điều khiển đầu dò. Siêu âm Doppler hiển thị dòng máu, giúp nhận diện mạch máu và chọn đường tiếp cận phù hợp", bác sĩ Tùng nói.

Ống nội soi Fujifilm phóng đại 145-150 lần, hình ảnh độ phân giải cao kết hợp siêu âm, đàn hồi mô trong EUS giúp chẩn đoán và can thiệp tổn thương dưới niêm mạc tiêu hóa, u tụy, đường mật... Ảnh: Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh

Sau khi chọn vùng lấy mẫu và đường đi an toàn, bác sĩ đưa kim FNB qua ống nội soi, xuyên thành ống tiêu hóa vào khối u. Toàn bộ đường đi của kim được theo dõi bằng siêu âm. Nếu gặp mạch máu, êkíp sẽ đổi hướng để hạn chế nguy cơ tổn thương.

Kim FNB lấy được lõi mô còn nguyên cấu trúc, thay vì chỉ thu tế bào rời như chọc hút kim nhỏ, gọi tắt là FNA. Nhờ đó, bác sĩ có thể đánh giá cách tế bào sắp xếp và xâm nhập mô. Khi mẫu đạt yêu cầu, mô còn có thể dùng cho xét nghiệm hóa mô miễn dịch hoặc xét nghiệm phân tử.

Mẫu sinh thiết của ông Thành cho thấy các tuyến tế bào bất thường xâm nhập mô đệm, phù hợp với ung thư biểu mô tuyến ống tụy. Kết quả này giúp êkíp xác định loại u và lập kế hoạch điều trị dựa trên mô bệnh học, hình ảnh và dữ liệu lâm sàng.

Bác sĩ Tùng đang ứng dụng EUS dẫn lưu đường mật (trái) và thực hiện đặt stent đường mật, giải quyết tình trạng tắc mật cho người bệnh. Ảnh: Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh

Còn kết quả MRI chỉ ra khối u chưa xâm lấn mạch máu lớn và chưa có di căn xa. Vì vậy, người bệnh được chỉ định phẫu thuật cắt khối tá tụy. Sau mổ, bác sĩ tiếp tục xác nhận loại ung thư, kiểm tra diện cắt không còn tế bào ung thư, các hạch không ghi nhận di căn. Bệnh nhân tiếp tục được chuyên khoa ung bướu theo dõi, đánh giá điều trị bổ trợ.

Từ đây, bác sĩ Tùng đánh giá EUS FNB giúp tiếp cận các tổn thương hay khối u sâu khó lấy mẫu và cung cấp lõi mô phục vụ chẩn đoán. Kỹ thuật này hỗ trợ phân biệt các loại tổn thương, lựa chọn xét nghiệm cần thiết và xây dựng phương án điều trị.

Ngoài chẩn đoán, EUS còn mở rộng sang can thiệp. Một ứng dụng quan trọng là dẫn lưu đường mật dưới hướng dẫn EUS (EUS‑BD), dùng khi nội soi mật tụy ngược dòng (ERCP) thất bại hoặc không thể tiếp cận nhú Vater. Bác sĩ xác định đường mật qua dạ dày hoặc tá tràng, tạo đường dẫn lưu và đặt stent giải áp. Đây là kỹ thuật phức tạp, đòi hỏi đào tạo chuyên sâu và trang thiết bị phù hợp.

Người bệnh đang được bác sĩ nội soi (hình trái) và chăm sóc sau nội soi (ảnh phải) tại khu nội soi VIP của Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP HCM. Ảnh: Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh

EUS cũng hỗ trợ nhiều can thiệp chuyên sâu khác: xử lý các khối u sớm nằm sâu ở đường tiêu hóa, kể cả các tổn thương nhỏ nằm dưới niêm mạc, dẫn lưu nang giả tụy, ổ hoại tử tụy, túi mật, ống tụy; tạo thông nối dạ dày - hỗng tràng; phong bế hoặc hủy đám rối thần kinh tạng; đốt u bằng sóng cao tần và các điều trị tại chỗ khác. Tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP HCM, EUS đã được triển khai thường quy trong chẩn đoán và can thiệp các bệnh lý tiêu hóa, gan mật tụy.

Quyên Phan

Sinh thiết giữ vai trò then chốt trong việc xác định bản chất khối u, từ đó giúp bác sĩ lựa chọn phương án điều trị phù hợp cho từng người bệnh. Tuy nhiên, với những tổn thương nằm sâu ở hệ tiêu hóa, gan, mật và tụy, việc lấy mẫu qua thành bụng thường gặp nhiều khó khăn vì đường chọc dài, gần mạch máu và cơ quan quan trọng. CT hoặc MRI có thể cho thấy vị trí, kích thước tổn thương, nhưng hình ảnh vẫn chưa đủ khẳng định chính xác đó là loại u nào. Theo VnExpress, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP HCM đang ứng dụng kỹ thuật siêu âm nội soi kết hợp sinh thiết lõi mô, gọi tắt là EUS FNB, để tiếp cận những khối u khó lấy mẫu. Kỹ thuật được TS.BS Phạm Hữu Tùng, Phó giám đốc Trung tâm Nội soi và Phẫu thuật Nội soi Tiêu hóa, báo cáo tại Hội nghị Khoa học quốc tế 2026 của bệnh viện, diễn ra từ ngày 16 đến 20/9. Nhờ đưa đầu dò đến gần tổn thương từ bên trong đường tiêu hóa, bác sĩ có thể quan sát rõ hơn, lấy mẫu chính xác hơn và giảm rủi ro trong quá trình can thiệp. Trong thủ thuật, ống nội soi được đưa qua miệng xuống đường tiêu hóa, còn đầu dò siêu âm tiến sát khối u từ dạ dày hoặc tá tràng. Hình ảnh liên tục theo thời gian thực giúp bác sĩ nhận diện tổn thương, điều chỉnh vị trí đầu dò và lựa chọn hướng đưa kim phù hợp với giải phẫu từng người. Siêu âm Doppler đồng thời hiển thị dòng máu, hỗ trợ êkíp tránh mạch máu khi kim xuyên qua thành ống tiêu hóa để tiếp cận khối u. Một trường hợp điển hình là ông Thành, 62 tuổi, đến bệnh viện sau khoảng một tháng đau âm ỉ vùng thượng vị và sụt khoảng 10 kg. Kết quả CT phát hiện khối đặc gần 3 cm ở đầu tụy, kèm tình trạng giãn ống tụy và đường mật, nhưng chưa thể xác định rõ bản chất tổn thương. Vì vậy, các bác sĩ chỉ định EUS FNB nhằm thu thập mẫu mô đủ chất lượng cho xét nghiệm chuyên sâu. Khi đầu dò được đặt trong dạ dày, bác sĩ có thể quan sát tuyến tụy ở khoảng cách gần, đồng thời theo dõi chính xác vị trí khối u trên màn hình. Sau khi xác định đường đi an toàn, kim FNB được đưa qua ống nội soi, xuyên thành ống tiêu hóa vào tổn thương, toàn bộ hành trình đều được kiểm soát bằng siêu âm. Nếu phát hiện mạch máu nằm trên đường chọc, êkíp có thể thay đổi hướng tiếp cận để hạn chế nguy cơ tổn thương. Điểm khác biệt của FNB nằm ở khả năng lấy được lõi mô còn giữ cấu trúc, thay vì chỉ thu những tế bào rời như phương pháp chọc hút kim nhỏ FNA. Nhờ cấu trúc mô được bảo tồn, bác sĩ có thể đánh giá cách tế bào sắp xếp, mức độ xâm nhập mô và đặc điểm của tổn thương rõ hơn. Khi mẫu đạt yêu cầu, phần mô này còn có thể tiếp tục phục vụ xét nghiệm hóa mô miễn dịch hoặc xét nghiệm phân tử. Kết quả sinh thiết của ông Thành cho thấy các tuyến tế bào bất thường đã xâm nhập mô đệm, phù hợp với ung thư biểu mô tuyến ống tụy. Thông tin mô bệnh học được kết hợp cùng hình ảnh học và dữ liệu lâm sàng để êkíp xác định loại u, xây dựng kế hoạch điều trị cho người bệnh. MRI sau đó cho thấy khối u chưa xâm lấn mạch máu lớn và chưa xuất hiện di căn xa. Với những dữ kiện này, ông Thành được chỉ định phẫu thuật cắt khối tá tụy, một can thiệp quan trọng trong điều trị tổn thương tại đầu tụy. Sau phẫu thuật, bác sĩ tiếp tục xác nhận loại ung thư, kiểm tra diện cắt không còn tế bào ác tính và ghi nhận các hạch chưa có di căn. Người bệnh tiếp tục được chuyên khoa ung bướu theo dõi, trong khi kỹ thuật EUS FNB mở thêm lựa chọn chẩn đoán cho các khối u nằm sâu, khó tiếp cận trong hệ tiêu hóa.