Bỏ qua điều hướng
•

Công nghiệp văn hóa nhìn từ quán cà phê trong bảo tàng

Công nghiệp văn hóa nhìn từ quán cà phê trong bảo tàng
Nguồn ảnh: Dân Trí

(Dân trí) - Tài nguyên văn hóa và sản phẩm văn hóa có sức cạnh tranh là hai việc khác nhau. Giữa chúng là cả một quá trình sáng tạo, tổ chức sản xuất, xây dựng thương hiệu, phát triển thị trường và phân phối lợi ích.

Hà Nội đã quen với hình ảnh lãnh đạo các nước đến thăm, dạo phố, thưởng thức cà phê, ăn bún chả, thậm chí làm một vài cốc bia hơi. Những vị khách đặc biệt ấy không chỉ xuất hiện trong các hội trường sang trọng hay những nghi thức ngoại giao nghiêm cẩn, mà còn hòa vào nhịp sống bình thường của thành phố. Một bát bún chả, một quán cà phê ven đường, một cốc bia hơi giữa phố phường đông đúc – những điều tưởng như bình thường với người Việt lại có thể trở thành trải nghiệm đáng nhớ đối với những vị khách quý nước ngoài.

Sức hấp dẫn ấy không chỉ nằm ở món ăn hay đồ uống, mà còn ở không khí đường phố, cách con người giao tiếp và cảm giác được tiếp xúc với một nền văn hóa đang sống, chứ không chỉ được trưng bày. Những giá trị ấy khó đo đếm bằng tiền, nhưng hoàn toàn có thể tạo ra giá trị kinh tế.

Những hình ảnh bất ổn, thậm chí bạo động trên đường phố tại một số nước trên thế giới cũng gợi nhắc rằng sự bình yên, cởi mở và thân thiện trong đời sống thường ngày là tài sản đáng quý. Mỗi quốc gia có hoàn cảnh riêng, không thể từ những sự việc cụ thể mà khái quát về cả một xã hội. Nhưng Việt Nam có những lợi thế văn hóa không cần phải xây dựng từ đầu. Vấn đề là chúng ta đã biết gìn giữ, tổ chức và chuyển hóa những lợi thế ấy thành giá trị mới hay chưa.

Công nghiệp văn hóa nhìn từ quán cà phê trong bảo tàng - 1

Phối cảnh Xây dựng trung tâm công nghiệp văn hóa Đồng Xuân - Bắc Qua, Hà Nội (Ảnh minh họa: Phường Hoàn Kiếm).

Đây cũng là câu hỏi cốt lõi của phát triển công nghiệp văn hóa. Một đất nước có di sản phong phú, ẩm thực đặc sắc, làng nghề lâu đời và đời sống cộng đồng giàu bản sắc chưa phải đương nhiên có một nền công nghiệp văn hóa phát triển. Tài nguyên văn hóa và sản phẩm văn hóa có sức cạnh tranh là hai việc khác nhau. Giữa chúng là cả một quá trình sáng tạo, tổ chức sản xuất, xây dựng thương hiệu, phát triển thị trường và phân phối lợi ích.

Nhìn vào câu chuyện ở bảo tàng, có thể thấy một phần khoảng cách ấy.

Khách tham quan có thể chiêm ngưỡng những hiện vật quý giá nhưng cũng cần tìm thấy một góc nhỏ để nghỉ chân, uống cà phê, đọc sách hay trò chuyện về những điều vừa khám phá. Một quầy cà phê được thiết kế tinh tế, cửa hàng bán sản phẩm sáng tạo gắn với nội dung trưng bày, hay một góc bia hơi gợi nhớ phong vị Hà Nội ở địa điểm thích hợp đều có thể làm phong phú trải nghiệm văn hóa.

Vậy mà có nơi không có nổi một góc bán cà phê bởi những vướng mắc trong cách hiểu và áp dụng quy định về quản lý, khai thác tài sản công. Tất nhiên, không phải bảo tàng nào cũng phù hợp với dịch vụ ăn uống. Bảo quản hiện vật, phòng cháy, chữa cháy và đặc thù của từng thiết chế phải được đặt lên hàng đầu. Nhưng nếu một dịch vụ phù hợp, có thể nâng cao trải nghiệm và tạo thêm nguồn thu mà không ảnh hưởng đến nhiệm vụ bảo tồn, tại sao không xây dựng cơ chế để thực hiện?

Tôi hình dung, ở một không gian văn hóa phù hợp, tấm biển nhỏ ghi “Xin quý khách không dùng quá hai cốc bia” đôi khi còn có sức gợi hơn nhiều lời quảng bá. Điều hấp dẫn không chỉ là cốc bia, mà còn là câu chuyện văn hóa, cách ứng xử và không khí đời thường được đặt trong giới hạn văn minh. Một trải nghiệm được tổ chức tốt có thể khiến người ta nhớ lâu hơn một sản phẩm quảng bá tốn kém.

Ở chiều ngược lại, có những không gian văn hóa bị khai thác quá mức, biến thành nơi ăn uống, nhậu nhẹt, hò hét đến đêm khuya, ảnh hưởng đến cảnh quan, môi trường và đời sống cộng đồng. Nơi có thể mở để phát huy giá trị thì đóng kín, nơi cần giữ gìn lại có lúc buông lỏng. Một bên coi khai thác là rủi ro cần tránh bằng mọi giá, bên kia chỉ xem đó là cơ hội tận dụng mặt bằng để thu tiền. Cả hai đều chưa nhìn văn hóa như một nguồn lực cần được phát triển bằng tri thức, trách nhiệm và năng lực tổ chức.

Rào cản đầu tiên nằm ở tư duy quản lý. Quản lý tài sản công không thể chỉ nhằm tránh thất thoát mà bỏ qua hiệu quả sử dụng. Một bảo tàng được đầu tư bằng ngân sách nhà nước không chỉ có nhiệm vụ giữ gìn hiện vật, mà còn phải đưa di sản đến gần công chúng và tìm kiếm nguồn lực hợp pháp để nâng cao chất lượng hoạt động. Bảo tồn không đồng nghĩa với đóng kín, khai thác không đồng nghĩa với buông lỏng.

Nếu mọi sáng kiến đều có thể bị nhìn nhận như nguy cơ vi phạm, phương án an toàn nhất thường là không làm gì. Nhưng không quyết định cũng có cái giá: tài sản không được sử dụng hiệu quả, công chúng thiếu trải nghiệm và cơ hội tạo nguồn lực cho bảo tồn bị bỏ lỡ.

Rào cản thứ hai là năng lực tổ chức và kinh doanh. Một quầy cà phê không tự nhiên trở thành sản phẩm văn hóa chỉ vì nằm trong bảo tàng, một quán bia hơi cũng không tự nhiên thành điểm đến hấp dẫn chỉ vì mang phong vị Hà Nội.

Một làng nghề khó tạo ra giá trị gia tăng cao nếu chỉ bán sản phẩm quen thuộc mà không đổi mới thiết kế, xây dựng thương hiệu, phát triển kênh phân phối hay kết nối với trải nghiệm du lịch. Một di sản cũng khó phát huy hết tiềm năng nếu khách chỉ đến chụp ảnh rồi rời đi. Muốn khách ở lại lâu hơn, chi tiêu nhiều hơn và có lý do quay trở lại, phải tạo ra những trải nghiệm hấp dẫn, đáng tin cậy và khác biệt.

Một di sản có thể truyền cảm hứng cho nhiều sản phẩm, dịch vụ, nhưng để chúng đứng vững trên thị trường, cần nghiên cứu khách hàng, thiết kế, công nghệ, truyền thông và quản trị kinh doanh. Niềm tự hào về văn hóa là điểm khởi đầu, không thể thay thế năng lực làm ra sản phẩm tốt.

Rào cản thứ ba là cách phân chia lợi ích. Nhà nước cần tạo hành lang pháp lý, đầu tư hạ tầng và bảo đảm cạnh tranh minh bạch. Doanh nghiệp cần đầu tư, sáng tạo và nâng cao chất lượng dịch vụ. Cộng đồng phải được tham gia và hưởng lợi tương xứng. Nếu người dân chỉ chịu sức ép từ lượng khách đông hơn, giá sinh hoạt tăng và không gian sống bị thu hẹp mà không có sinh kế tốt hơn, động lực gìn giữ văn hóa sẽ suy giảm. Khi văn hóa đem lại việc làm và thu nhập, người dân có thêm điều kiện bảo vệ những tập quán, cảnh quan và lối sống tạo nên sức hấp dẫn của địa phương.

Phát triển công nghiệp văn hóa phải tạo ra giá trị gia tăng thực sự, làm rõ ai được hưởng lợi, ai chịu trách nhiệm và phần giá trị nào được tái đầu tư để nuôi dưỡng chính nguồn lực văn hóa.

Dĩ nhiên, không phải mọi giá trị văn hóa đều cần thương mại hóa. Có những không gian cần sự tĩnh lặng, những nghi lễ phải giữ nguyên tính thiêng, có di sản không thể chịu sức ép của lượng khách quá lớn. Không thể vì tăng doanh thu mà biến mọi nơi thành điểm kinh doanh, cũng không thể lấy số lượng khách làm thước đo duy nhất. Điều quan trọng là xác định đúng giới hạn khai thác cho từng loại hình, từng địa điểm, đặt bảo tồn và lợi ích cộng đồng trong thiết kế phát triển ngay từ đầu, thay vì đợi đến khi phát sinh tổn hại mới tìm cách khắc phục.

Thế giới không chỉ tìm đến Việt Nam để ngắm những công trình nổi tiếng hay chụp ảnh tại những địa danh quen thuộc. Nhiều người còn muốn đi bộ an toàn, trò chuyện với người dân, thưởng thức món ăn địa phương và cảm nhận nhịp sống riêng. Những lợi thế ấy cần được gìn giữ bằng quy hoạch hợp lý, môi trường sạch sẽ, dịch vụ đáng tin cậy và văn hóa ứng xử trong đời sống hằng ngày.

Điều đáng tiếc nhất không phải là chúng ta chưa bán được sản phẩm, dịch vụ văn hóa cho thế giới, mà là có những giá trị đang hiện hữu ngay trước mắt, chúng ta vẫn chưa biết cách làm cho chúng sinh ra giá trị mới.

Tác giả: PGS.TS Đỗ Chí Nghĩa là Đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Văn hóa và Xã hội.

Chuyên mục TÂM ĐIỂM mong nhận được ý kiến của bạn đọc về nội dung bài viết. Hãy vào phần Bình luận và chia sẻ suy nghĩ của mình. Xin cảm ơn!

Hình ảnh các nhà lãnh đạo quốc tế dạo phố Hà Nội, thưởng thức bún chả hay uống bia hơi phản ánh sức hút tự nhiên của một nền văn hóa đang sống động trong đời thường. Sự bình yên, cởi mở và nếp sinh hoạt phố phường đặc trưng chính là nguồn tài nguyên phi vật thể quý giá sẵn có của Việt Nam. Tuy nhiên, việc sở hữu bề dày di sản phong phú chưa đồng nghĩa với việc mặc nhiên sở hữu một nền công nghiệp văn hóa có sức cạnh tranh cao trên thị trường. Khoảng cách giữa tài nguyên tiềm năng và sản phẩm thương mại hoàn chỉnh thể hiện rõ qua câu chuyện dịch vụ tại các bảo tàng hiện nay. Một quầy cà phê tinh tế, cửa hàng lưu niệm sáng tạo hay góc trải nghiệm ẩm thực phù hợp hoàn toàn có thể nối dài cảm xúc khám phá của du khách. Thực tế nhiều thiết chế văn hóa vẫn thiếu vắng các tiện ích tối thiểu này do những rào cản và vướng mắc trong cách hiểu, áp dụng quy định quản lý, khai thác tài sản công. Dù công tác bảo quản hiện vật và an toàn phòng cháy chữa cháy luôn là ưu tiên hàng đầu, các đơn vị quản lý vẫn cần cơ chế linh hoạt để khai thác dịch vụ gia tăng giá trị. Một không gian văn hóa dung hòa được tính bảo tồn nghiêm cẩn với trải nghiệm đời sống thường nhật sẽ trực tiếp thúc đẩy chuỗi giá trị kinh tế. Quá trình chuyển hóa lợi thế văn hóa thành động lực phát triển đòi hỏi sự đồng bộ từ khâu sáng tạo, chuẩn hóa sản xuất cho đến phân phối lợi ích bền vững.
amung