Bỏ qua điều hướng
•

Cuộc đời Quyền Chủ tịch nước Huỳnh Thúc Kháng

Cuộc đời Quyền Chủ tịch nước Huỳnh Thúc Kháng
Nguồn ảnh: VnExpress

Từ chối quan trường để chấn hưng dân trí, chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng đã đồng hành cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh, chèo lái đất nước qua giai đoạn hiểm nghèo.

Ngày 1/10/2026 đánh dấu tròn 150 năm ngày sinh cụ Huỳnh Thúc Kháng (1876-1947), nguyên Quyền Chủ tịch nước, Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Các tư liệu trưng bày dịp này đã tái hiện trọn vẹn hành trình lịch sử cùng cuộc đời kiên trung, không màng danh lợi, một lòng tận tụy vì dân tộc của cụ.

Từ chối quan trường, khởi xướng phong trào Duy Tân

Cụ Huỳnh Thúc Kháng sinh ra trong gia đình làm nông tại làng Thạnh Bình, tổng Tiên Giang Thượng, phủ Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam cũ (nay là thôn Tiên Cảnh, xã Thạnh Bình, TP Đà Nẵng). Dòng họ cụ có truyền thống khoa bảng, trong đó cậu ruột là Nguyễn Đình Tựu đỗ Phó bảng thời vua Tự Đức, giữ chức Tế tửu Quốc Tử Giám và hai lần giữ chức Đốc học Quảng Nam.

Cô giáo Huỳnh Thị Tố Hoài, chắt của chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng, kể chuyện về thân thế, sự nghiệp của cụ. Ảnh: Nguyễn Đông

Cô giáo Huỳnh Thị Tố Hoài, chắt của chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng, kể chuyện về thân thế, sự nghiệp của cụ. Ảnh: Nguyễn Đông

Theo tư liệu của Bảo tàng Đà Nẵng, ngay từ nhỏ, cụ nổi tiếng thông minh, đạt danh hiệu "Song nguyên" thứ hai của xứ Quảng khi đỗ đầu cả hai kỳ thi: Giải nguyên khoa thi Hương năm 1900 tại trường Thừa Thiên và Hội nguyên khoa thi Hội năm 1904. Đến kỳ thi Đình cùng năm, cụ đỗ tiến sĩ đệ tam giáp.

Đạt đến đỉnh cao khoa cử, nhưng Huỳnh Thúc Kháng từ chối bước vào con đường quan lộ dưới chế độ thực dân nửa phong kiến. Cụ chọn đứng về phía nhân dân, cùng Phan Châu Trinh và Trần Quý Cáp tạo thành "Bộ ba Duy Tân xứ Quảng" đi tìm con đường tự cường cho đất nước.

Năm 1905, ba chí sĩ chính thức khởi xướng phong trào Duy Tân với tôn chỉ cốt lõi: "khai dân trí, chấn hưng dân khí, bồi dưỡng dân sinh"; tích cực cổ xúy mở trường dạy chữ Quốc ngữ, chữ Pháp, thành lập hội buôn, phát triển sản xuất nông nghiệp và vận động đồng bào cắt tóc ngắn.

Cũng trong năm 1905, trên đường nam du vào Bình Định, ba ông giả dạng học trò làm bài thơ Chí thành thông thánh và bài phú Lương ngọc danh sơn (ký tên Đào Mộng Giác). Tác phẩm đả kích trực diện lối học từ chương hủ bại và tệ nạn quan trường lúc bấy giờ. Phong trào nhanh chóng lan rộng khắp miền Trung, rồi vươn ra Bắc Kỳ và Nam Kỳ.

13 năm lao tù Côn Đảo và tiếng nói phản biện xã hội

Tháng 3/1908, phong trào đấu tranh chống sưu thuế của người dân bùng nổ dữ dội tại Quảng Nam rồi lan rộng khắp dải đất miền Trung. Trước làn sóng đấu tranh mạnh mẽ, chính quyền thực dân tổ chức đàn áp. Cụ Huỳnh Thúc Kháng bị bắt giữ ngay tại quê nhà và bị tòa án thực dân kết án lưu đày ra Côn Đảo hơn 13 năm (1908-1921) dưới tội danh "mưu phản vị hành".

Tư liệu của Bảo tàng Đà Nẵng ghi lại trong chốn lao tù khắc nghiệt, người chí sĩ không chịu khuất phục. Cụ tự học tiếng Pháp qua từ điển và sáng tác thơ ca để nuôi dưỡng ý chí. Sau khi mãn hạn tù trở về đất liền, cụ khôi phục và biên soạn tập Thi tù tùng thoại, ghi lại trọn vẹn khí tiết bất khuất của những người tù yêu nước.

Trở về quê hương, cụ kiên quyết khước từ mọi chức tước, bổng lộc mua chuộc từ phía chính quyền thực dân lẫn Nam triều. Năm 1926, cụ đắc cử Viện trưởng Viện Nhân dân đại biểu Trung Kỳ với 620/640 phiếu bầu.

Cụ nhận lời đảm nhiệm vị trí này với mục tiêu tận dụng "khe hẹp" nghị viện để đấu tranh đòi quyền lợi thiết thực cho nhân dân. Đến kỳ họp năm 1928, sau khi công khai vạch trần các chính sách sưu thuế bất công và yêu cầu cải cách pháp luật không thành, cụ cùng nhiều đại biểu kiên quyết từ chức vì nhận thấy cơ quan này không có thực quyền.

Một số báo Tiếng Dân trưng bày tại Nhà lưu niệm Huỳnh Thúc Kháng ở xã Thạnh Bình, TP Đà Nẵng. Ảnh: Nguyễn Đông

Một số báo Tiếng Dân trưng bày tại Nhà lưu niệm Huỳnh Thúc Kháng ở xã Thạnh Bình, TP Đà Nẵng. Ảnh: Nguyễn Đông

Tháng 8/1927, Huỳnh Thúc Kháng sáng lập báo Tiếng Dân tại Huế, trực tiếp đảm nhiệm vai trò Chủ nhiệm kiêm Chủ bút. Đây là cơ quan ngôn luận bằng chữ Quốc ngữ đầu tiên tại khu vực Trung Kỳ.

Tháng 7/1938, trước căng thẳng tranh chấp quần đảo Hoàng Sa giữa Pháp và Nhật Bản, báo Tiếng Dân đăng loạt bài của Sử Bình Tử - bút danh của chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng - khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo này. Cụ viện dẫn nhiều tư liệu lịch sử giá trị như ghi chép về đội Hoàng Sa, quá trình khai thác hải vật của người Việt, đặc biệt là bộ Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn. Động thái đưa vấn đề Hoàng Sa lên mặt báo thời điểm đó thể hiện rõ ý thức và trách nhiệm bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia.

Trước sự kìm kẹp gắt gao của sở kiểm duyệt thực dân Pháp, chủ bút Huỳnh Thúc Kháng kiên trì giữ vững nguyên tắc làm báo: "Vì rằng ta không thể nói tất cả những điều ta muốn nói, thì ta có cái quyền không nói những điều ta thấy không nên nói".

Đối với những bài viết bị cơ quan kiểm duyệt cắt bỏ, cụ kiên quyết để nguyên "mảnh đất trống" hoặc in dòng chữ "bị kiểm duyệt cắt bỏ" nhằm vạch trần tình trạng mất tự do ngôn luận. Tòa soạn cũng dứt khoát từ chối đăng tải các nội dung độc hại với giới trẻ.

Đến năm 1943, khi chính quyền thực dân ép buộc phải sửa bài viết theo ý đồ can thiệp, dọa đóng cửa nếu không tuân thủ, cụ thà chấp nhận ngừng xuất bản chứ nhất quyết không chịu phục tùng.

Báo Tiếng Dân chính thức bị đình bản sau 16 năm bền bỉ phản ánh đời sống người lao động, phê phán nạn nhũng nhiễu và bảo vệ nền văn hóa dân tộc.

Mối duyên lịch sử với Chủ tịch Hồ Chí Minh

Tháng 3/1945, phát xít Nhật đảo chính lật đổ Pháp và dựng lên chính quyền Trần Trọng Kim. Đổng lý Ngự tiền văn phòng Phạm Khắc Hòe tìm đến mời cụ vào triều để bệ kiến vua Bảo Đại.

Nhiều tư liệu lịch sử ghi lại cụ thẳng thừng từ chối lời đề nghị và gọi đó là nền "độc lập bánh vẽ". Phải đến khi Cách mạng Tháng Tám giành thắng lợi, cụ mới hân hoan khẳng định nền độc lập ngày 2/9/1945 mới thực sự là nền độc lập chân chính do toàn thể quốc dân tranh đấu mà có được.

Mối cơ duyên giữa cụ Huỳnh và Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi nguồn sâu xa từ một lời dặn dò lịch sử. Năm 1926, trước khi trút hơi thở cuối cùng, chí sĩ Phan Châu Trinh đã nắm chặt tay cụ Huỳnh gửi gắm: "Độc lập Việt Nam sau này sở cậy có Nguyễn Ái Quốc".

Chính vì vậy, khi nhận được bức thư mời ra Hà Nội tham gia Chính phủ Liên hiệp vào cuối năm 1945, cụ Huỳnh quyết định lên đường ra Bắc để trực tiếp gặp, đồng thời xác tín Nguyễn Ái Quốc có đúng là Hồ Chí Minh hay không?

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ trưởng Nội vụ Huỳnh Thúc Kháng trong Chính phủ đầu tiên. Ảnh: Tư liệu

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ trưởng Nội vụ Huỳnh Thúc Kháng (hàng đầu, bên phải) trong Chính phủ đầu tiên. Ảnh tư liệu

Khi đã xác nhận và chứng kiến sự sáng suốt, phong thái giản dị cùng lòng yêu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cụ Huỳnh hoàn toàn tin tưởng. Cụ dành sự kính trọng đặc biệt, khẳng định "Dân ta có được cụ Hồ quả là hồng phúc", đồng thời đánh giá việc Bác Hồ chủ trì ký Hiệp định Sơ bộ ngày 6/3/1946 là "một nước cao cờ", đồng thuận ký tên vào biên bản họp Hội đồng Chính phủ.

Nhận lời nhắn từ Bác Hồ qua ông Nguyễn Xương Thái: "Cụ Huỳnh đã hy sinh nhiều rồi, bây giờ mong cụ hy sinh thêm ra làm việc nước, làm công bộc cho dân", lúc đầu cụ Huỳnh băn khoăn chưa nhận lời vì nghĩ mình tuổi già, sức yếu. Đến lời mời lần hai, cụ đáp lại: "Chữ Huỳnh Thúc Kháng này tôi xin gửi cho cụ, cụ dùng được việc gì thì cụ dùng".

"Bác Hồ đã trân trọng mời cụ Huỳnh Thúc Kháng đảm nhận vị trí Bộ trưởng Nội vụ - vị trí then chốt quán xuyến cả công an, tuyên truyền và nội vụ. Sự lựa chọn một sĩ phu không đảng phái nhưng có đạo đức, danh vọng mà toàn thể quốc dân đều biết vào vị trí này là một quyết sách thiên tài, giúp đập tan sự tranh chấp của các phe phái và quy tụ lòng dân", PGS.TS Ngô Văn Minh, nguyên Trưởng khoa Dân tộc và Tôn giáo, Học viện Chính trị khu vực III, nhận định.

5 tháng quyền Chủ tịch nước

Cụ Huỳnh Thúc Kháng bước vào bộ máy chính quyền cách mạng khi đã bước sang tuổi 70. Theo sắc lệnh ngày 29/5/1946 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký trước khi lên đường sang Pháp thực hiện chuyến công tác ngoại giao, Bộ trưởng Nội vụ Huỳnh Thúc Kháng được giao phó trọng trách giữ cương vị Quyền Chủ tịch Chính phủ. Trước khi sang thăm Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn cụ Huỳnh phương châm "dĩ bất biến ứng vạn biến".

143 ngày (từ 31/5 đến 21/10/1946) nắm quyền điều hành của cụ Huỳnh diễn ra giữa bối cảnh thù trong giặc ngoài đe dọa trực tiếp đến sự tồn vong của chính quyền cách mạng non trẻ. Trên cương vị người đứng đầu Chính phủ, cụ đã thể hiện bản lĩnh, giữ vững trật tự an ninh nội chính và xử lý nghiêm các âm mưu chống phá.

Văn bản Chủ tịch Hồ Chí Minh giao quyền Chủ tịch cho cụ Huỳnh Thúc Kháng. Ảnh: Bản sao tư liệu tại Trung tâm lưu trữ quốc gia I của PGS TS Ngô Văn Minh

Sắc lệnh Chủ tịch Hồ Chí Minh giao quyền Chủ tịch cho cụ Huỳnh Thúc Kháng. Ảnh: Bản sao tư liệu tại Trung tâm lưu trữ quốc gia I của PGS TS Ngô Văn Minh

Nổi bật là quyết sách đập tan âm mưu bạo loạn lật đổ chính quyền trong vụ án phố Ôn Như Hầu ngày 14/7/1946. Khi các phần tử Quốc dân đảng cấu kết với quân Pháp định ném lựu đạn vu khống Việt Minh để cướp chính quyền, cụ Huỳnh đã trực tiếp thẩm định hồ sơ, phê chuẩn cho lực lượng công an tấn công, xóa sổ 40 cơ sở bạo loạn.

Khi đích thân đến hiện trường chứng kiến tội ác sát hại người giấu xác của nhóm phản động, cụ phẫn nộ mắng thẳng: "Quốc gia dân tộc gì chúng mày, bọn phản quốc!".

Cụ cũng kiên quyết xử lý vụ gây rối vũ trang tại Bạch Hạc. Khi Quốc dân đảng tấn công bộ đội chính phủ rồi lấp liếm là vấn đề "đảng tranh", cụ Huỳnh dứt khoát chỉ đạo trong phiên họp Chính phủ: "Tôi lấy tư cách là Quyền Chủ tịch Chính phủ giao cho Võ Nguyên Giáp xử lý. Nếu sắp xếp không được có quyền dùng mọi biện pháp quân sự phục hồi trật tự". Nhờ sự quyết liệt này, chỉ trong hai ngày, lực lượng chống đối hoàn toàn tan rã.

Song song với việc trấn áp các thế lực phá hoại, cụ Huỳnh Thúc Kháng đóng vai trò hạt nhân trong việc thắt chặt khối đại đoàn kết dân tộc. Uy tín cá nhân của cụ đã quy tụ các đảng phái yêu nước và các tầng lớp nhân dân đồng lòng ủng hộ Chính phủ vượt qua cơn sóng gió.

Trong Lời tuyên bố với quốc dân sau chuyến thăm Pháp, ngày 23/10/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá cao những đóng góp của cụ Huỳnh Thúc Kháng trên cương vị Quyền Chủ tịch nước: "Trong lúc tôi đi vắng, nhờ sự lãnh đạo sáng suốt của cụ Huỳnh quyền Chủ tịch, sự săn sóc giúp đỡ của Quốc hội, sự ra sức gánh vác của Chính phủ, sự đồng tâm hợp lực của quốc dân, mà giải quyết được nhiều việc khó khăn, công việc kiến thiết cũng tiến bộ".

Theo đánh giá của PGS.TS Ngô Văn Minh, khoảng thời gian cụ Huỳnh Thúc Kháng đảm nhiệm cương vị Quyền Chủ tịch nước, Chủ tịch Chính phủ tuy ngắn ngủi nhưng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng: "Đây là giai đoạn sự nghiệp của cụ thể hiện rõ nhất tầm vóc của một nhà lãnh đạo chủ chốt quốc gia".

Nhà lưu niệm cụ Huỳnh Thúc Kháng tại xã Thạnh Bình đang là địa chỉ đỏ giáo dục truyền thống yêu nước cho thế hệ trẻ. Ảnh: Nguyễn Đông

Nhà lưu niệm cụ Huỳnh Thúc Kháng tại xã Thạnh Bình là địa chỉ đỏ giáo dục truyền thống yêu nước cho thế hệ trẻ. Ảnh: Nguyễn Đông

Trước đây giới nghiên cứu và công chúng thường chỉ biết tới cụ Huỳnh ở vai trò một chí sĩ Duy Tân hay nhà báo sáng lập tờ Tiếng Dân. Tuy nhiên PGS.TS Ngô Văn Minh cho rằng căn cứ vào các sắc lệnh và tư liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I, cụ Huỳnh phải được nhìn nhận đúng vị thế là một lãnh tụ chủ chốt hàng đầu của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

"Trong số nhà yêu nước tiền bối xứ Quảng, cụ Huỳnh Thúc Kháng là người duy nhất vừa sống để chứng kiến ngày đất nước giành độc lập, vừa trực tiếp đem hết trí tuệ, sức lực ra cống hiến cho bộ máy chính quyền với tinh thần của một người dân làm chủ đất nước tự do", PGS.TS Ngô Văn Minh nói thêm.

Di ngôn gửi trọn tấm lòng cho Tổ quốc

Đầu năm 1947, trên đường đi kinh lý các tỉnh miền Trung, cụ Huỳnh không may lâm bệnh nặng tại tỉnh Quảng Ngãi. Lúc 8h ngày 19/4/1947, biết sức khỏe khó qua khỏi, cụ đọc cho thư ký Lê Nhiếp chép bức di ngôn tuyệt mệnh gồm ba đoạn, có đóng dấu riêng của cụ.

Trong bức điện gửi riêng Chủ tịch Hồ Chí Minh, người đứng đầu ngành nội vụ và Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam trút bầu tâm sự: "Tôi bệnh nặng chắc không qua khỏi. 40 năm ôm ấp độc lập và dân chủ. Nay nước đã độc lập, chế độ dân chủ đã thực hiện, thế là tôi chết hả. Chỉ tiếc không được gặp cụ lần cuối cùng. Chúc cụ sống lâu để dìu dắt quốc dân lên đường vinh quang hạnh phúc".

Tháng 12/2012, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã truy tặng Huân chương Sao Vàng cho quyền Chủ tịch nước Huỳnh Thúc Kháng. Ảnh: Nguyễn Đông

Tháng 12/2012, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang truy tặng Huân chương Sao Vàng cho quyền Chủ tịch nước Huỳnh Thúc Kháng. Ảnh: Nguyễn Đông

Ở hai bức điện còn lại, cụ nhắn nhủ các chiến sĩ ngoài mặt trận hãy tiếp tục hăng hái chiến đấu, kiên quyết không để dân tộc rơi vào ách nô lệ thực dân một lần nữa; đồng thời tha thiết kêu gọi các đảng phái "mong anh em thực hiện ngay đại đoàn kết chung quanh Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị anh hùng xuất chúng, vị anh hùng của dân tộc".

Ngày 21/4/1947, cụ Huỳnh Thúc Kháng trút hơi thở cuối cùng, hưởng thọ 71 tuổi. Theo chỉ đạo của ông Phạm Văn Đồng (đại diện của Đảng và Chính phủ tại miền Nam Trung Bộ), thi hài cụ được an táng trọng thể trên đỉnh núi Thiên Ấn, tỉnh Quảng Ngãi.

Trong thư gửi 20 triệu đồng bào cả nước sau ngày cụ Huỳnh tạ thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Cụ Huỳnh là một người học hành rất rộng, chí khí rất bền, đạo đức rất cao... Cả đời cụ Huỳnh không cầu danh vị, không cầu lợi lộc, không thèm làm giàu, không thèm làm quan. Cả đời cụ Huỳnh chỉ phấn đấu cho dân được tự do, nước được độc lập".

Nguyễn Đông

Ngày 1/10/2026 đánh dấu 150 năm ngày sinh cụ Huỳnh Thúc Kháng, nhà yêu nước từng giữ cương vị Quyền Chủ tịch nước và Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Các tư liệu trưng bày nhân dịp này khắc họa hành trình của một chí sĩ kiên trung, không màng danh lợi, luôn tận tụy với dân tộc. Cuộc đời cụ trải dài qua khoa cử, phong trào Duy Tân, nhà tù Côn Đảo, nghị trường và mặt trận báo chí, tạo nên dấu ấn đặc biệt trong lịch sử Việt Nam. Huỳnh Thúc Kháng sinh năm 1876 trong một gia đình làm nông tại làng Thạnh Bình, tổng Tiên Giang Thượng, phủ Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam cũ, nay thuộc thôn Tiên Cảnh, xã Thạnh Bình, TP Đà Nẵng. Gia đình cụ có truyền thống khoa bảng, trong đó cậu ruột Nguyễn Đình Tựu từng đỗ Phó bảng thời vua Tự Đức, giữ chức Tế tửu Quốc Tử Giám và hai lần làm Đốc học Quảng Nam. Từ nhỏ, cụ đã nổi tiếng thông minh, sớm bộc lộ năng lực học tập nổi bật giữa vùng đất giàu truyền thống văn hóa. Năm 1900, Huỳnh Thúc Kháng đỗ đầu kỳ thi Hương tại trường Thừa Thiên, nhận danh hiệu Giải nguyên, rồi tiếp tục đỗ đầu kỳ thi Hội năm 1904 với danh hiệu Hội nguyên. Cũng trong năm 1904, tại kỳ thi Đình, cụ đỗ tiến sĩ đệ tam giáp, đạt đỉnh cao con đường khoa cử dưới triều Nguyễn. Tuy nhiên, thay vì bước vào quan trường trong bối cảnh đất nước chịu ách thực dân, cụ quyết định chọn con đường dấn thân cùng nhân dân. Cụ Huỳnh cùng Phan Châu Trinh và Trần Quý Cáp tạo thành “Bộ ba Duy Tân xứ Quảng”, cùng tìm kiếm hướng đi mới nhằm khơi dậy sức mạnh tự cường của đất nước. Năm 1905, ba chí sĩ chính thức khởi xướng phong trào Duy Tân, đặt trọng tâm vào khai dân trí, chấn hưng dân khí và bồi dưỡng dân sinh. Những chủ trương ấy hướng người dân đến việc học chữ Quốc ngữ, chữ Pháp, mở trường, lập hội buôn, phát triển nông nghiệp và thay đổi nếp sống. Trên đường nam du vào Bình Định năm 1905, ba ông từng cải trang thành học trò, sáng tác bài thơ Chí thành thông thánh và bài phú Lương ngọc danh sơn dưới bút danh Đào Mộng Giác. Các tác phẩm trực tiếp đả kích lối học từ chương hủ bại cùng những tệ nạn quan trường đang kìm hãm xã hội đương thời. Từ Quảng Nam, phong trào Duy Tân nhanh chóng lan rộng khắp miền Trung, sau đó vươn tới Bắc Kỳ và Nam Kỳ, mở rộng ảnh hưởng vượt khỏi phạm vi một địa phương. Tháng 3/1908, phong trào chống sưu thuế bùng nổ dữ dội tại Quảng Nam rồi lan ra nhiều tỉnh miền Trung, khiến chính quyền thực dân tổ chức đàn áp khốc liệt. Huỳnh Thúc Kháng bị bắt ngay tại quê nhà, bị tòa án thực dân kết án lưu đày ra Côn Đảo hơn 13 năm, từ 1908 đến 1921, với tội danh “mưu phản vị hành”. Trong nhà tù khắc nghiệt, cụ vẫn giữ khí tiết, tự học tiếng Pháp qua từ điển và làm thơ để nuôi dưỡng ý chí. Mãn hạn tù trở về đất liền, cụ khôi phục, biên soạn tập Thi tù tùng thoại, ghi lại khí phách bất khuất của những người tù yêu nước. Cụ tiếp tục từ chối mọi chức tước, bổng lộc do chính quyền thực dân và Nam triều đưa ra nhằm mua chuộc hoặc lôi kéo. Năm 1926, cụ đắc cử Viện trưởng Viện Nhân dân đại biểu Trung Kỳ với 620 trên 640 phiếu, chấp nhận vị trí này để tận dụng “khe hẹp” nghị viện, đấu tranh cho quyền lợi thiết thực của nhân dân. Đến kỳ họp năm 1928, sau khi công khai chỉ trích chính sách sưu thuế bất công và yêu cầu cải cách pháp luật không đạt kết quả, cụ cùng nhiều đại biểu quyết định từ chức vì nhận thấy cơ quan này không có thực quyền. Tháng 8/1927, cụ sáng lập báo Tiếng Dân tại Huế, trực tiếp làm Chủ nhiệm kiêm Chủ bút, biến tờ báo thành diễn đàn phản biện xã hội bằng chữ Quốc ngữ đầu tiên ở Trung Kỳ. Tháng 7/1938, giữa lúc Pháp và Nhật tranh chấp quần đảo Hoàng Sa, báo đăng loạt bài của Sử Bình Tử, bút danh Huỳnh Thúc Kháng, khẳng định chủ quyền Việt Nam dựa trên tư liệu lịch sử về đội Hoàng Sa, hoạt động khai thác hải vật của người Việt và bộ Phủ biên tạp lục.