Từ lịch sử chi tiêu tằn tiện, nhà trường phát hiện những sinh viên cần hỗ trợ, chuyển tiền vào thẻ ăn mà không yêu cầu họ chứng minh "nghèo khó".
Đây là dự án "Thẻ ăn ấm lòng", do Quỹ Phát triển giáo dục của Đại học Khoa học Công nghệ Nam Kinh, lập ra hồi năm 2016. Từ việc dùng dữ liệu lớn để phân tích lịch sử quẹt thẻ của sinh viên, trường xác định được nhóm ít tiêu tiền, cần trợ cấp.
Trong khi đó, trước đây, sinh viên phải nộp đơn trình bày hoàn cảnh, danh sách phê duyệt được công khai. Cán bộ quỹ nhận thấy cách này dễ làm tổn thương những sinh viên khó khăn. Nhiều em thà sống tằn tiện, gọi món rẻ nhất chứ không muốn bị dán nhãn "nghèo khó" để xin tài trợ.
"Thấy nhiều em chỉ gọi những món đồ chay rất đơn giản, chúng tôi trăn trở tìm một phương thức tài trợ chính xác, ấm áp hơn. Tiền hỗ trợ phải đến tay những sinh viên thực sự cần mà vẫn giữ được sự tự tôn và quyền riêng tư của họ", ông Vương Bột, Tổng thư ký Quỹ, kể lại.
Ban đầu, quỹ chi một triệu nhân dân tệ hỗ trợ 301 sinh viên. Tiêu chí là những em dùng 60 bữa/tháng, trung bình dưới 7 tệ/bữa. Trường sẽ bù phần chênh lệch để mỗi em có đủ 630 tệ/tháng (tương đương ba bữa mỗi ngày). Khoản này duy trì đến khi sinh viên ra trường.
Hiện mức này được nâng lên thành 750 tệ, phạm vi thống kê cũng mở rộng sang cả nhà sách, quầy nước trong khuôn viên. Qua 10 năm, hơn 41.000 lượt sinh viên nhận hỗ trợ, tổng khoảng 7,9 triệu nhân dân tệ (hơn 1,1 triệu USD).
"Nhiều sinh viên được hỗ trợ, sau khi ra trường đã quay lại đóng góp định kỳ, giống như nhận lấy gậy tiếp sức để giúp đỡ người khác", một cán bộ của quỹ cho hay.
Sinh viên quẹt thẻ để thanh toán tiền ăn ở Trung Quốc. Ảnh: China Focus Fanpage
Doãn Hùng (Theo Dagong News, People China, China Focus)
Dự án “Thẻ ăn ấm lòng” của Quỹ Phát triển giáo dục, Đại học Khoa học Công nghệ Nam Kinh, cho thấy dữ liệu chi tiêu có thể trở thành công cụ hỗ trợ sinh viên theo cách kín đáo và chính xác hơn. Từ năm 2016, nhà trường phân tích lịch sử quẹt thẻ để nhận diện những sinh viên thường xuyên chọn suất ăn rẻ, thay vì yêu cầu họ nộp đơn trình bày hoàn cảnh và xuất hiện trong danh sách xét duyệt công khai.
Sự thay đổi này xuất phát từ nhận thức rằng quy trình trợ cấp truyền thống có thể vô tình làm tổn thương lòng tự trọng của người nhận. Theo ông Vương Bột, Tổng thư ký Quỹ, nhiều sinh viên chỉ gọi những món chay đơn giản, chấp nhận sống tằn tiện vì không muốn bị gắn nhãn “nghèo khó”, nên tiền hỗ trợ cần đến đúng người nhưng vẫn bảo vệ quyền riêng tư.
Trong giai đoạn đầu, quỹ chi một triệu nhân dân tệ cho 301 sinh viên, với tiêu chí sử dụng 60 bữa mỗi tháng và mức chi trung bình dưới 7 tệ một bữa. Nhà trường bù phần chênh lệch để mỗi sinh viên có đủ 630 tệ mỗi tháng, tương đương ba bữa mỗi ngày, đồng thời duy trì khoản trợ cấp đến khi họ tốt nghiệp. Hiện mức hỗ trợ đã tăng lên 750 tệ, còn dữ liệu thống kê được mở rộng sang nhà sách và các quầy nước trong khuôn viên.
Sau 10 năm, chương trình đã hỗ trợ hơn 41.000 lượt sinh viên, với tổng kinh phí khoảng 7,9 triệu nhân dân tệ, tương đương hơn 1,1 triệu USD. Quy mô này phản ánh giá trị của một mô hình phúc lợi dựa trên dấu hiệu chi tiêu thực tế, đồng thời giảm áp lực chứng minh hoàn cảnh đối với người gặp khó khăn. Việc nhiều cựu sinh viên sau khi tốt nghiệp quay lại đóng góp định kỳ còn tạo nên vòng tuần hoàn tương trợ, nơi sự giúp đỡ được tiếp nối mà không đánh đổi phẩm giá của người nhận.