Các khu công nghệ này không chỉ là nơi để thu hút doanh nghiệp, mà còn có vai trò kết nối nghiên cứu, đào tạo với sản xuất, thúc đẩy ứng dụng và thương mại hóa công nghệ cho toàn vùng.
Với vai trò là hạt nhân của vùng Đông Nam Bộ, Thành phố Hồ Chí Minh có điều kiện thuận lợi để dẫn dắt quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đó, thành phố thông qua Đề án phát triển mới 17 khu công nghệ số tập trung, với tổng diện tích từ 750 đến 1.000 ha. Đề án hướng đến thu hút các doanh nghiệp công nghệ lớn, tạo động lực phát triển hệ sinh thái công nghệ số và đóng góp quan trọng vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế của thành phố, cũng như cho toàn vùng Đông Nam Bộ vào năm 2030.
Theo Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố thu hút hơn 56% tổng vốn đầu tư vào các công ty công nghệ, gần 50% số doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo và 40% số cơ sở ươm tạo, đồng thời chiếm 44% tổng vốn đầu tư và 60% số thương vụ đầu tư của cả nước. Những lợi thế này tạo nền tảng để thành phố tiếp tục mở rộng hệ sinh thái công nghệ, thúc đẩy nghiên cứu, phát triển và thương mại hóa các sản phẩm, dịch vụ mới.
Thực tiễn hoạt động của Công viên phần mềm Quang Trung (QTSC), khu công nghệ thông tin tập trung đầu tiên của Việt Nam cho thấy hiệu quả của việc hình thành khu công nghệ số chuyên biệt dành cho doanh nghiệp công nghệ. Đến nay, QTSC thu hút hơn 110 doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực phần mềm, nội dung số và dịch vụ công nghệ thông tin. Các doanh nghiệp tại đây phát triển, cung cấp hơn 650 sản phẩm, dịch vụ và giải pháp công nghệ, với thị trường xuất khẩu ở hơn 20 quốc gia và vùng lãnh thổ, chủ yếu là Hoa Kỳ, Nhật Bản và châu Âu.
Ngoài ra, Khu Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh (SHTP) là một trong những trung tâm công nghệ hàng đầu cả nước, là khu công nghệ cao thành công nhất trong ba khu công nghệ cao quốc gia. SHTP cũng là nơi đặt Trung tâm Cách mạng công nghiệp 4.0 tại thành phố, là trung tâm thứ hai tại Đông Nam Á. Trung tâm thúc đẩy đổi mới sáng tạo, tạo động lực phát triển kinh tế thành phố thông qua nghiên cứu, ứng dụng các công nghệ mũi nhọn như vi mạch, công nghệ sinh học, vật liệu mới, drone, AI và Internet vạn vật (IoT).
Những mô hình này là tiền đề để thành phố phát triển các khu công nghệ số trong thời gian tới. Muốn vậy, thành phố cần giải quyết những hạn chế về thể chế, cơ chế hỗ trợ và hạ tầng. Trong đó, hành lang pháp lý cho phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu thực tiễn, nhất là ở các lĩnh vực mới như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và bán dẫn, điện toán đám mây. Cơ chế thương mại hóa kết quả nghiên cứu, phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ, thu hút nhân lực chất lượng cao và bảo đảm nguồn lực tài chính cũng cần tiếp tục hoàn thiện. Trong khi hạ tầng công nghệ chưa được đầu tư đồng bộ, dẫn đến chưa tạo được lực hấp dẫn thu hút các tập đoàn công nghệ lớn đầu tư.
Để phát triển các khu công nghệ số trở thành động lực tăng trưởng của vùng Đông Nam Bộ, thành phố cần nâng cao chất lượng hoạt động và hiệu quả liên kết, thay vì chỉ tập trung gia tăng thu hút doanh nghiệp. Các khu công nghệ số cần được đầu tư hạ tầng kỹ thuật đồng bộ, đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp, và gắn với việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, các dịch vụ hỗ trợ. Công tác quy hoạch các khu công nghệ số cần phù hợp định hướng phát triển của Thành phố Hồ Chí Minh, cũng như các địa phương trong vùng Đông Nam Bộ; tăng cường kết nối các khu công nghệ số với cơ sở đào tạo, tổ chức nghiên cứu, doanh nghiệp sản xuất và đơn vị cung cấp dịch vụ để thúc đẩy chuyển giao, ứng dụng công nghệ, hình thành mạng lưới đổi mới sáng tạo cho toàn vùng.
Bài và ảnh: KHÁNH TRÌNH