Thông tin tại hội thảo “Đưa Luật Tài nguyên nước vào cuộc sống: Chủ động nguồn nước, điều hòa và vận hành hiệu quả” sáng 20/10, bà Nguyễn Thị Phương Hoa, Trưởng phòng Lưu vực sông Nam Trung Bộ - Cục Quản lý Tài nguyên nước (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), cho biết trong tháng 6-8, dòng chảy trên hầu hết sông, suối thuộc 12 lưu vực sông lớn thấp hơn 11-75% so với trung bình nhiều năm. Đến tháng 9, dù một số lưu vực xuất hiện mưa lũ, dòng chảy nhìn chung vẫn thiếu hụt.
Bà Nguyễn Thị Phương Hoa thông tin tại hội thảo sáng 20/10 (Ảnh: Phùng Minh).
Việc điều hòa, phân phối tài nguyên nước phải căn cứ vào quy hoạch về tài nguyên nước, kịch bản nguồn nước, hiện trạng, nhu cầu và hạn ngạch khai thác, kết quả hạch toán tài nguyên nước (nếu có). Để đưa các căn cứ này vào thực tiễn điều hành, theo bà Hoa, cần có cơ sở dữ liệu đầy đủ và hệ thống công cụ hỗ trợ ra quyết định.
Từ đó, bà Hoa nêu quan điểm cần tích hợp dữ liệu với các mô hình toán, phần mềm tính toán, hệ thống giám sát, quan trắc công trình khai thác, sử dụng nước trên nền tảng số. Khi thông tin được cập nhật thường xuyên, liên tục, hệ thống sẽ hỗ trợ điều chỉnh chế độ vận hành hồ chứa, từng bước hướng tới điều hòa, phân phối nước theo thời gian thực.
Chia sẻ thêm về vấn đề trên, TS. Nguyễn Ngọc Hà, Phó Tổng Giám đốc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia, nhận định đợt El Nino 2026-2027 là phép thử khắc nghiệt đầu tiên đối với toàn bộ chuỗi điều hành theo Luật Tài nguyên nước.
Ông Hà đưa ra bốn thông điệp xuyên suốt: Chủ động điều hành theo kịch bản; kết nối chặt chẽ kịch bản với lịch mùa vụ và cấp nước; phối hợp vận hành liên hồ đa mục tiêu; ưu tiên nước sinh hoạt trước, duy trì dòng chảy tối thiểu.
Trong khi đó, Giáo sư Nguyễn Quốc Dũng, Hội Đập lớn và Phát triển nguồn nước Việt Nam, khẳng định ứng dụng khoa học công nghệ, trí tuệ nhân tạo (AI) không còn là lựa chọn, mà đã trở thành yêu cầu bắt buộc nhằm nâng cao hiệu quả vận hành hồ chứa, liên hồ chứa và khai thác bền vững tài nguyên nước.
Giáo sư Nguyễn Quốc Dũng chia sẻ tại hội thảo (Ảnh: Phùng Minh).
Mặc dù Việt Nam đã từng bước hoàn thiện hành lang pháp lý nhưng ông Dũng nói quá trình thể chế hóa chính sách còn chậm, cơ chế quản lý hồ thủy lợi và thủy điện trên cùng lưu vực sông vẫn thiếu đồng bộ.
Hiện chỉ có khoảng 17% hồ chứa được trang bị thiết bị khí tượng thủy văn chuyên dùng tự động. Trong khi dữ liệu còn phân tán, thiếu chuẩn kết nối thống nhất; năng lực ứng dụng công nghệ và hệ thống quy chuẩn kỹ thuật chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
Từ đó, vị chuyên gia đề xuất chuyển từ nghiên cứu theo thế mạnh từng đơn vị sang giải quyết “bài toán thực địa” của từng lưu vực sông.
“Các chủ hồ thủy lợi, thủy điện phải chia sẻ dữ liệu quan trắc thời gian thực về trung tâm điều hành lưu vực sông, khắc phục tình trạng chia cắt thông tin giữa các ngành”, ông Dũng nêu quan điểm.
Đợt mưa lũ, ngập lụt lớn ở miền Trung vào tháng 10/2025 (Ảnh: Tiến Thành).
Ông Dũng dẫn ví dụ ứng dụng AI sẽ mô phỏng ngập lụt, hỗ trợ xả nước trước để đón lũ và điều phối liên hồ chứa linh hoạt. Song song đó phải xây dựng bản đồ ngập lụt động nhằm xác định phạm vi, độ sâu ngập và nguy cơ thiệt hại, phục vụ cảnh báo, sơ tán dân và ứng phó khẩn cấp.
Cuối cùng, vị giáo sư kiến nghị xây dựng bộ quy chuẩn quốc gia thống nhất về an toàn đập và hệ thống quan trắc khí tượng thủy văn, áp dụng cho cả hồ thủy điện và thủy lợi.
Như Dân trí thông tin, Cục Khí tượng Thủy văn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) dự báo, trong thời kỳ tháng 10-12/2026, trạng thái El Nino có cường độ rất mạnh với xác suất rất cao ở mức 98%. Thời kỳ tháng 1-3/2027 El Nino tiếp tục duy trì cường độ rất mạnh nhưng khả năng giảm cường độ.
Nhiều khả năng hiện tượng El Nino còn tiếp tục duy trì đến các tháng đầu mùa hè năm 2027. Thời điểm bắt đầu nguy cơ xảy ra hạn hán, xâm nhập mặn trên diện rộng bắt đầu từ đầu mùa khô năm 2026-2027 (từ tháng 11/2026 và kéo dài đến khoảng tháng 9/2027, tùy từng vùng). Các vùng nguy cơ ảnh hưởng cao gồm Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, Đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam Bộ và Bắc Trung Bộ.
Trong đó, hạn hán, xâm nhập mặn ảnh hưởng trên diện rộng cho cả 4 vùng với tổng diện tích cây trồng nguy cơ bị ảnh hưởng lúc cao điểm khoảng 424.800-502.300ha. Đồng bằng sông Cửu Long gồm 85.800ha lúa đông xuân, 120.000ha diện tích lúa - tôm và 45.000ha cây ăn trái.