Bỏ qua điều hướng

Gần 39.000 doanh nghiệp TPHCM rời thị trường: Cách nào để trụ lại, lớn lên?

Gần 39.000 doanh nghiệp TPHCM rời thị trường: Cách nào để trụ lại, lớn lên?
Nguồn ảnh: Dân Trí

(Dân trí) - Điều đáng lo nhất không phải số lượng doanh nghiệp rời thị trường, mà là những doanh nghiệp có sản phẩm tốt, có khách hàng... lại không vượt qua được thử thách.

Chia sẻ với phóng viên Dân trí về câu chuyện gần 39.000 doanh nghiệp tại TPHCM rút lui khỏi thị trường trong 7 tháng đầu năm, các chuyên gia nêu những góc nhìn, giải pháp ứng phó để doanh nghiệp tồn tại và phát triển bền vững.

Ông Từ Tiến Phát, Tổng Giám đốc Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB): Một nguồn dữ liệu thống nhất để doanh nghiệp có thể sử dụng cho nhiều thủ tục

Từ thực tiễn đồng hành cùng doanh nghiệp, ACB nhận thấy các điểm nghẽn hiện nay không chỉ nằm ở chi phí vốn mà còn ở thời gian thực hiện thủ tục, khả năng tiếp cận dữ liệu và nguồn lực, cũng như mức độ thống nhất trong quá trình thực thi chính sách.

Điểm nghẽn thứ nhất là thời gian và tính dự báo của các thủ tục đầu tư, đất đai, xây dựng, cấp phép và đăng ký kinh doanh. Một dự án phải chờ thêm nhiều tháng để hoàn thiện thủ tục sẽ phát sinh thêm chi phí vốn, chi phí cơ hội và có thể bỏ lỡ thời điểm thị trường. Vì vậy, bên cạnh việc tiếp tục cắt giảm thủ tục, cần đo lường cụ thể thời gian xử lý, xác định rõ trách nhiệm của từng đầu mối và bảo đảm quy định được áp dụng nhất quán.

Theo báo cáo tình hình kinh tế - xã hội của Thống kê TPHCM, trong 7 tháng đầu năm, có 7.483 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể; có 31.321 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, trong khi đó 12.221 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động. Lũy kế, tổng số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường trong 7 tháng đã gần 39.000 doanh nghiệp.

Ở chiều ngược lại, thành phố có 34.096 doanh nghiệp thành lập mới, tăng hơn 22% so với cùng kỳ. Bức tranh kinh tế thành phố tăng trưởng khi 6 tháng đầu năm với GRDP tăng 8,55%, mức cao nhất trong 10 năm; tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội tăng 9,9%, trong khi vốn FDI thu hút tiếp tục tăng mạnh.

Thứ hai là khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh. Nhiều khách hàng có hoạt động kinh doanh và dòng tiền thực nhưng chưa có hệ thống sổ sách, báo cáo tài chính hoặc tài sản bảo đảm đáp ứng đầy đủ các phương thức thẩm định truyền thống. Việc kết nối dữ liệu về doanh nghiệp, thuế, hóa đơn, đất đai, đăng ký kinh doanh và giao dịch thanh toán sẽ tạo điều kiện để các tổ chức tín dụng đánh giá khách hàng dựa nhiều hơn trên dữ liệu và dòng tiền thực tế, qua đó mở rộng khả năng tiếp cận vốn nhưng vẫn bảo đảm kiểm soát rủi ro.

Thứ ba là dữ liệu và quy trình còn phân tán giữa các cơ quan. Chủ trương của Chính phủ về tái sử dụng dữ liệu, giảm thành phần hồ sơ và không yêu cầu người dân, doanh nghiệp cung cấp lại thông tin Nhà nước đã có là rất đúng. Quan trọng là đẩy nhanh kết nối các cơ sở dữ liệu quốc gia và chuyên ngành, hình thành một nguồn dữ liệu thống nhất để doanh nghiệp chỉ phải cung cấp thông tin một lần và có thể sử dụng cho nhiều thủ tục.

Đồng thời, chuyển đổi số cần được thực hiện cả ở công nghệ, quy trình và con người. Nếu chỉ số hóa hồ sơ nhưng vẫn giữ nguyên các bước xử lý và đầu mối trung gian trước đây, doanh nghiệp sẽ chưa thực sự được giảm thời gian và chi phí. Công nghệ chỉ tạo ra giá trị khi quy trình được thiết kế lại và đội ngũ thực thi được trao đủ thẩm quyền, trách nhiệm để giải quyết công việc.

Năng lực cạnh tranh của nền kinh tế trong giai đoạn tới không chỉ được đo bằng chi phí vốn mà còn bằng chi phí tuân thủ và thời gian doanh nghiệp tiếp cận các nguồn lực phát triển. Mỗi thủ tục được đơn giản hóa, mỗi dữ liệu được kết nối và tái sử dụng hiệu quả đều là một hình thức giảm chi phí cho doanh nghiệp.

Khi doanh nghiệp có thể dành nhiều thời gian và nguồn lực hơn cho sản xuất, mở rộng thị trường và đổi mới sáng tạo, khu vực kinh tế tư nhân sẽ có điều kiện phát huy đầy đủ vai trò động lực tăng trưởng. 

Ông Lê Đức Anh, Chuyên gia phân tích từ FinSuccess: Doanh nghiệp nhỏ không nên đứng một mình

Doanh nghiệp cần thay đổi là cách nhìn về dòng tiền, bởi khi thị trường biến động, doanh thu không quan trọng bằng khả năng chuyển doanh thu thành tiền. Doanh nghiệp cần biết nếu doanh thu giảm 20-30% thì có thể duy trì hoạt động trong bao lâu?

Doanh nghiệp tiếp tục chuyển đổi số, nhưng phải thực tế. Với doanh nghiệp vừa và nhỏ không nhất thiết phải đầu tư những hệ thống rất lớn và đắt tiền, quan trọng là chọn đúng những khâu có thể tiết kiệm nhân sự và thời gian như kế toán, bán hàng, quản lý khách hàng, quản lý tồn kho hay chăm sóc khách hàng….

Phải chuẩn bị sớm cho các tiêu chuẩn xanh và ESG. Đây không còn chỉ là câu chuyện hình ảnh, đặc biệt với những doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng của các tập đoàn lớn hoặc xuất khẩu.

Bản thân doanh nghiệp nhỏ không nên đứng một mình. Việc tham gia các cụm liên kết ngành, chuỗi cung ứng hoặc hợp tác với các doanh nghiệp khác có thể giúp giảm chi phí, tăng sức mạnh đàm phán và mở rộng cơ hội tiếp cận khách hàng lớn.

Gần 39.000 doanh nghiệp TPHCM rời thị trường: Cách nào để trụ lại, lớn lên? - 1

Doanh nghiệp cần chú trọng dòng tiền (Ảnh minh họa: Tiến Tuấn).

Về phía TPHCM, cần chuyển từ tư duy “hỗ trợ doanh nghiệp khi gặp khó” sang “kiến tạo một môi trường để doanh nghiệp có thể lớn lên”. Thành phố có thể ưu tiên hoàn thiện và đơn giản hóa các thủ tục liên quan đến đất đai, xây dựng, môi trường, phòng cháy chữa cháy… Song song, thiết kế lại cách hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, bởi không phải doanh nghiệp nào cũng có nhiều bất động sản để thế chấp.

Thành phố cần tận dụng tốt hơn các cơ chế đặc thù để phát triển logistics, khu thương mại tự do, công nghệ cao, các ngành có giá trị gia tăng lớn... đóng vai trò kết nối mạnh hơn giữa doanh nghiệp và các tập đoàn lớn, đặc biệt là doanh nghiệp FDI, để tăng thêm sức mạnh hợp tác liên kết.

Điều đáng lo nhất không phải là một nền kinh tế có doanh nghiệp rời thị trường. Đáng lo là những doanh nghiệp có sản phẩm tốt, có khách hàng và có khả năng phát triển lại phải rời thị trường chỉ vì thiếu vốn, thiếu thời gian hoặc không vượt qua được những rào cản hành chính. 

Ông Nguyễn Thành Trung, nhà sáng lập Sky Mavis: Có cơ chế “hồi hương” đưa vốn, tài sản trí tuệ của startup Việt về nước

Hiện các sản phẩm công nghệ có thể xuyên biên giới nhưng cấu trúc pháp lý và tài chính vẫn phụ thuộc vào từng quốc gia. Việc thiếu những công cụ gọi vốn linh hoạt theo thông lệ quốc tế như SAFE - một công cụ gọi vốn, thủ tục tiếp nhận vốn nước ngoài còn nhiều bước, cùng những hạn chế trong thanh toán xuyên biên giới và ghi nhận tài sản trí tuệ khiến dự án khởi nghiệp (startup) Việt gặp khó khi tiếp cận dòng vốn quốc tế.

Hành lang pháp lý đối với blockchain vẫn chưa bao quát hết các mô hình kinh doanh mới. Nhiều hoạt động như ứng dụng blockchain trong thanh toán, lưu trữ, xác thực dữ liệu hay quản lý tài sản nội bộ chưa được làm rõ, trong khi các quỹ đầu tư quốc tế đặc biệt quan tâm đến tính ổn định và khả năng dự báo của chính sách trước khi cam kết nguồn vốn dài hạn.

Từ những vướng mắc thực tế, doanh nghiệp TPHCM không chỉ cần được hỗ trợ vượt qua khó khăn trước mắt mà còn phải tạo môi trường thuận lợi để doanh nghiệp tiếp cận vốn, mở rộng quy mô và đầu tư dài hạn.

Đề xuất xây dựng cơ chế “hồi hương” để đưa vốn, tài sản trí tuệ và hoạt động kinh doanh của startup Việt từ nước ngoài về trong nước. Cần có “luồng xanh” cho việc chuyển quyền sở hữu trí tuệ, thương hiệu về Việt Nam, công nhận các công cụ gọi vốn quốc tế như SAFE, đồng thời có chính sách thuế và quản lý ngoại hối linh hoạt hơn. Cần tận dụng trung tâm tài chính quốc tế làm không gian thử nghiệm thể chế, cho phép quỹ ngoại rót vốn trực tiếp vào startup thông qua các công cụ quốc tế, với đầu mối thủ tục tập trung và cơ chế giải quyết tranh chấp phù hợp.

Gần 39.000 doanh nghiệp TPHCM rời thị trường: Cách nào để trụ lại, lớn lên? - 2

Cần tiếp tục đơn giản hóa thủ tục hành chính, hỗ trợ tốt hơn nữa cho doanh nghiệp (Ảnh minh họa: DT).

Luật sư Hoàng Hà, Đoàn luật sư TPHCM: Giảm số cơ quan doanh nghiệp phải tự mình "kết nối"

TPHCM nên cải cách theo hướng giảm số lần doanh nghiệp phải đi lại và giảm số cơ quan doanh nghiệp phải tự mình “kết nối”. Điều thành phố cần làm cấp thiết không phải là tạo thêm nhiều chính sách hỗ trợ, mà là làm cho môi trường kinh doanh dễ dự đoán và giảm chi phí tồn tại của doanh nghiệp. Bởi TPHCM cũng thừa nhận con số này cho thấy sức ép đối với khu vực doanh nghiệp còn rất lớn.

Cần xử lý dứt điểm các hồ sơ kéo dài trong những lĩnh vực có tác động lớn đến dòng vốn như đất đai, đầu tư, quy hoạch, xây dựng và môi trường. Mô hình một cửa, một quyết định, một đầu mối chịu trách nhiệm mà thành phố đang triển khai cần được áp dụng thực chất đối với cả một dự án, thay vì doanh nghiệp vẫn phải tự đi qua nhiều cơ quan.

Phải kiểm soát nghiêm thời hạn giải quyết. Hồ sơ quá hạn cần xác định được đang vướng ở đâu, ai chịu trách nhiệm và thời điểm xử lý xong. Đồng thời, dữ liệu Nhà nước đã có thì không yêu cầu doanh nghiệp nộp lại. Quy định mới của TPHCM về thủ tục đất đai cũng đã đặt ra nguyên tắc khai thác dữ liệu sẵn có để thay thế thành phần hồ sơ.

Cần bảo đảm tính ổn định và thống nhất trong thực thi pháp luật. Doanh nghiệp có thể chấp nhận một quy định chặt chẽ nếu biết trước phải làm gì, mất bao lâu và tốn bao nhiêu. Điều họ khó chịu đựng nhất là cùng một quy định nhưng mỗi nơi hiểu và áp dụng một cách khác nhau. 

Thông tin mới nhất từ Dân Trí về 'Gần 39.000 doanh nghiệp TPHCM rời thị trường: Cách nào để trụ lại, lớn lên?' đang nhận được nhiều phản hồi tích cực từ độc giả. Diễn biến nổi bật ghi nhận việc điều đáng lo nhất không phải số lượng doanh nghiệp rời thị trường, mà là những doanh nghiệp có sản phẩm tốt, có khách hàng, giúp làm sáng tỏ toàn cảnh vấn đề. Diễn biến tiếp theo của sự việc đang được các cơ quan chức năng phối hợp làm rõ để gửi đến độc giả.