Đồng nhiễm 2-3 tác nhân cùng lúc
PGS.TS Nguyễn Thị Diệu Thúy, Trưởng Bộ môn Nhi, Đại học Y Hà Nội, Trưởng khoa Nhi, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội, cho biết khoảng 50% trường hợp nhập viện được ghi nhận có tình trạng đồng nhiễm tác nhân gây bệnh.
Theo chuyên gia, thời điểm giao mùa hè sang thu tạo điều kiện thuận lợi cho các vi sinh vật đường hô hấp gia tăng hoạt động, khiến số trẻ mắc bệnh hô hấp có xu hướng tăng. Bên cạnh đó, đây cũng là thời điểm trẻ trở lại trường, tiếp xúc với nhiều bạn bè trong không gian tập trung đông người. Mật độ tiếp xúc cao khiến virus và vi khuẩn đường hô hấp dễ lây lan hơn.
Theo PGS Thúy, nhiều trẻ đồng nhiễm 2-3 tác nhân gây bệnh hô hấp cùng lúc (Ảnh: T.A).
“Hiện tại, adenovirus đang bùng phát khá rộng. Song song đó, RSV vẫn tồn tại. Các vi khuẩn như phế cầu hay Haemophilus influenzae (HI) cũng tồn tại liên tục. Có những trẻ cùng thời điểm nhiễm 2-3 tác nhân gây bệnh trên đường hô hấp. Trong số các vi khuẩn đường hô hấp, phế cầu và HI là những tác nhân phổ biến. Đặc biệt, phế cầu đang đặt ra thách thức lớn trong điều trị bởi tình trạng kháng kháng sinh ngày càng đáng lo ngại", PGS Thúy nói.
Phế cầu giảm tỷ lệ mắc nhưng bệnh cảnh lại nặng hơn
PGS Thúy cho biết trước đây phế cầu được ghi nhận liên quan tới khoảng 40% bệnh lý đường hô hấp thông thường. Hiện tỷ lệ này giảm còn khoảng 24%, nhưng bệnh cảnh lại nặng hơn do tình trạng phế cầu kháng kháng sinh.
Theo chuyên gia, phế cầu vốn có thể tồn tại ở đường hô hấp của người khỏe mạnh và thường đáp ứng điều trị với các kháng sinh thông thường. Tuy nhiên, những nghiên cứu gần đây tại Việt Nam cho thấy tỷ lệ phế cầu kháng các loại kháng sinh thông thường ở mức cao.
Nhiều trường hợp bệnh nhân đã được tiêm phòng mà vẫn sốt cao rõ rệt, triệu chứng lâm sàng diễn tiến nặng, khi làm kháng sinh đồ thì có tới 50% trường hợp đã kháng kháng sinh. Đáng lo ngại hơn, vi khuẩn phế cầu hiện nay không chỉ kháng một loại mà đã trở thành phế cầu đa kháng kháng sinh.
Bác sĩ cho rằng đây là một trong những lý do khiến phụ huynh đôi khi thắc mắc tại sao trẻ đã tiêm vắc xin nhưng vẫn mắc bệnh hoặc bệnh vẫn diễn tiến nặng. Trẻ có thể nhiễm chủng phế cầu khác, hoặc đã tiêm rồi mà bệnh vẫn nặng (do tình trạng vi khuẩn kháng kháng sinh). Đây là hai câu chuyện hoàn toàn khác nhau.
Theo PGS Thúy, một trong những nguyên nhân góp phần thúc đẩy kháng kháng sinh là việc sử dụng kháng sinh không hợp lý.
Việc lạm dụng kháng sinh, tiếp xúc với thuốc liên tục khiến vi khuẩn phế cầu vốn sống ký sinh bình thường trong cơ thể bắt đầu "nhờn thuốc". Lần thứ nhất thuốc còn nhạy, lần thứ hai vẫn nhạy, nhưng đến lần thứ ba là kháng thuốc. Cứ như vậy, vi khuẩn biến đổi thành các chủng đa kháng cực kỳ "hung hãn", dùng kháng sinh này không đỡ, đổi sang kháng sinh khác cũng không xong.
Điều đáng nói, ngay cả trẻ sử dụng kháng sinh đúng chỉ định vẫn có thể bị lây nhiễm những chủng vi khuẩn kháng thuốc từ người khác.
Kháng kháng sinh hiện không chỉ là vấn đề của riêng Việt Nam mà đã trở thành thách thức y tế toàn cầu. Ước tính, đến năm 2050, trên thế giới sẽ có khoảng 10 triệu người tử vong mỗi năm liên quan đến kháng kháng sinh.
Và để chống kháng sinh phải nghiên cứu ra các loại kháng sinh mới. Nhưng một loại kháng sinh mới vừa ra đời sau 10 năm nghiên cứu, chỉ dùng khoảng 5-7 năm là vi khuẩn đã bắt đầu kháng lại. Vì thế, cách tốt nhất để phòng chống kháng kháng sinh là ngăn ngừa nhiễm bệnh ngay từ đầu đối với các tác nhân phổ biến như phế cầu.
Phế cầu có thể gây viêm màng não, để lại di chứng suốt đời
Phế cầu có thể gây bệnh ở mọi lứa tuổi nhưng đặc biệt đáng lưu ý ở trẻ dưới 5 tuổi. Trẻ lớn ít nhiễm hơn nhưng một khi đã nhiễm thì thường nặng.
Khi bị nhiễm vi khuẩn phế cầu, trẻ ho, hắt hơi, sổ mũi như bệnh đường hô hấp thông thường. Khoảng 2-3 ngày sau, trẻ bắt đầu sốt cao liên tục, cổ cứng, nôn vọt. Lúc này, vi khuẩn phế cầu đã đi vào đường máu hoặc đi từ những vị trí như tai, xoang để xâm lấn vào màng não, gây ra sốt cao và co giật.
Nếu như các bệnh do virus thường có đặc điểm “bị nhanh khỏi nhanh” thì tình trạng do phế cầu lại tiến triển từ từ hơn nhưng dai dẳng và kéo dài hơn. Thông thường, một đợt bệnh có thể diễn tiến từ 7-10 ngày, nhưng có thể để lại các biến chứng như nhiễm khuẩn huyết, kháng kháng sinh, viêm màng não. Thời gian điều trị có thể kéo dài 1 tuần, 2 tuần, thậm chí đến 4 tuần hoặc lâu hơn.
Theo PGS Thúy, nguy hiểm nhất là khi phế cầu gây biến chứng viêm màng não, từ đó gây tổn thương hệ thần kinh, hậu quả ảnh hưởng đến trí tuệ; phát triển nhận thức của trẻ.
Là một chuyên gia trong lĩnh vực nhi khoa, PGS Thúy cho rằng, điều trị 5-10 ca viêm phổi ít để lại di chứng nặng nề hơn điều trị 1 ca viêm màng não.
Bởi di chứng thần kinh do viêm màng não để lại nỗi trăn trở rất lớn đối với cha mẹ. Phụ huynh sẽ luôn phải sống trong dằn vặt, lo sợ không biết hệ thần kinh và trí tuệ của con sau này có bị ảnh hưởng hay không. Những di chứng nặng nề như tổn thương não, não úng thủy dù hiện nay ít hơn nhưng lâm sàng vẫn ghi nhận các ca bệnh lẻ tẻ hàng năm tại các địa phương.
Theo PGS Thúy, trong bối cảnh vi khuẩn ngày càng kháng thuốc, phòng ngừa nhiễm khuẩn ngay từ đầu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Một trong những biện pháp phòng bệnh đối với phế cầu là tiêm vắc xin theo khuyến cáo. Khi tỷ lệ bao phủ vắc xin trong cộng đồng tăng, số người mang và lây truyền vi khuẩn trong cộng đồng có thể giảm, qua đó góp phần bảo vệ cả những người chưa được tiêm chủng.
“Phòng bệnh hơn chữa bệnh. Tiêm chủng đúng lịch và không chờ đợi”, PGS Thúy khuyến cáo.
Bác sĩ cũng lưu ý, phụ huynh không nên tự ý mua hoặc sử dụng kháng sinh cho trẻ khi chưa có chỉ định. Trong thời điểm giao mùa và mùa tựu trường, cha mẹ cần chú ý vệ sinh tay, hạn chế cho trẻ tiếp xúc với người đang mắc bệnh hô hấp, giữ môi trường sinh hoạt thông thoáng. Nếu trẻ sốt cao kéo dài, khó thở, li bì, co giật, nôn vọt, cổ cứng, cần đưa đến cơ sở y tế sớm nhất.