Bộ Y tế đang lấy ý kiến dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 188/2025/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm y tế (BHYT).
Một trong những nội dung đáng chú ý là đề xuất đẩy mạnh khai thác dữ liệu điện tử trong khám chữa bệnh BHYT, qua đó giảm yêu cầu người bệnh phải xuất trình nhiều loại giấy tờ.
Bệnh viện chủ động tra cứu dữ liệu
Theo dự thảo, người tham gia BHYT khi khám chữa bệnh cung cấp thông tin về thẻ BHYT và giấy tờ chứng minh nhân thân theo một trong các hình thức như căn cước, căn cước công dân, tài khoản định danh điện tử (VNeID) mức độ 2 đã tích hợp thông tin thẻ BHYT hoặc thẻ BHYT bản điện tử, bản giấy.
Đề xuất người dân không phải xuất trình nhiều giấy tờ khi khám BHYT (Ảnh minh họa" T.M).
Với trường hợp sử dụng thẻ BHYT chưa có ảnh hoặc mã số BHYT, dự thảo đề xuất cơ sở khám chữa bệnh khai thác thông tin từ cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành hoặc tra cứu trên hệ thống trực tuyến của cơ quan có thẩm quyền.
Nếu không khai thác được thông tin, người bệnh mới phải xuất trình các giấy tờ chứng minh nhân thân theo quy định.
Các giấy tờ có thể được sử dụng để chứng minh nhân thân gồm căn cước, căn cước công dân, giấy chứng nhận căn cước, hộ chiếu, liên kết với tài khoản định danh điện tử (VNeID) mức độ 2 hoặc ứng dụng VssID hoặc giấy tờ chứng minh nhân thân khác do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp hoặc giấy xác nhận của công an cấp xã.
Đối với trẻ em dưới 6 tuổi, chỉ xuất trình thẻ BHYT bản giấy hoặc bản điện tử hoặc mã số BHYT.
Nếu trẻ chưa được cấp thẻ BHYT, cơ sở khám chữa bệnh có thể khai thác thông tin từ các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành hoặc hệ thống trực tuyến của cơ quan có thẩm quyền.
Các thông tin được khai thác gồm giấy chứng sinh, giấy khai sinh, số định danh cá nhân hoặc thông tin của trẻ đã được tích hợp thông tin người phụ thuộc hoặc thông tin cư trú trên ứng dụng VNeID của bố hoặc mẹ.
Trường hợp không khai thác được, người bệnh mới phải xuất trình các giấy tờ này.
Đối với trẻ vừa sinh, cha, mẹ hoặc thân nhân của trẻ ký xác nhận trên hồ sơ bệnh án. Nếu trẻ không có cha, mẹ hoặc thân nhân, người đại diện cơ sở khám chữa bệnh xác nhận trên hồ sơ bệnh án.
Một nhóm khác được đề xuất giảm giấy tờ là người tham gia BHYT đang trong thời gian chờ cấp, cấp lại hoặc thay đổi thông tin trên thẻ.
Khi người bệnh đến khám chữa bệnh, cơ sở khám chữa bệnh sẽ khai thác thông tin từ các cơ sở dữ liệu hoặc tra cứu trên hệ thống trực tuyến của cơ quan có thẩm quyền.
Nếu không khai thác được, người bệnh mới phải xuất trình giấy tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả cấp, cấp lại, đổi thẻ BHYT cùng giấy tờ chứng minh nhân thân theo quy định.
Đề xuất lập Hội đồng phản biện độc lập về danh mục BHYT
Một trong những nội dung đáng chú ý là đề xuất bổ sung quy định thành lập Hội đồng phản biện độc lập về chuyên môn và kinh tế, phục vụ xây dựng danh mục thuốc, thiết bị y tế và dịch vụ kỹ thuật thuộc phạm vi được quỹ BHYT chi trả.
Đề xuất này được đưa ra trong bối cảnh quá trình thực hiện Nghị định 188/2025 phát sinh một số khó khăn, vướng mắc liên quan đến thanh toán chi phí khám chữa bệnh, xây dựng và quản lý danh mục cũng như kiểm soát chi phí BHYT.
Dự thảo cũng đề xuất bổ sung trách nhiệm của Bảo hiểm xã hội Việt Nam trong việc giám định, rà soát dữ liệu, cảnh báo giá thuốc, thiết bị y tế tăng bất hợp lý và đánh giá tác động lên quỹ BHYT đối với danh mục mới và danh mục hiện hành.
Dự thảo bổ sung trách nhiệm của UBND cấp tỉnh trong việc giải quyết trường hợp Sở Y tế và cơ quan BHXH cấp tỉnh không thống nhất về thuyết minh chi phí khám chữa bệnh tăng cao.
Ngoài ra, cơ sở khám chữa bệnh có trách nhiệm thuyết minh, thông báo cho cơ quan bảo hiểm xã hội nơi ký hợp đồng và báo cáo Sở Y tế trong trường hợp bị cơ quan bảo hiểm xã hội kiến nghị, cảnh báo lần thứ hai về chi phí khám bệnh, chữa bệnh tăng cao mà không điều chỉnh.
Đối với các dịch vụ kỹ thuật đã được phê duyệt danh mục nhưng chưa được quy định hoặc phê duyệt giá, dự thảo đề xuất cơ chế để quỹ BHYT tạm thời thanh toán theo giá của dịch vụ kỹ thuật tương ứng đã được phê duyệt cho cơ sở khám chữa bệnh khác của Nhà nước trên địa bàn hoặc trên toàn quốc.
Thời gian áp dụng cơ chế này không quá 9 tháng kể từ ngày dịch vụ được phê duyệt danh mục.
Quy định nhằm bảo đảm không gián đoạn quyền lợi của người bệnh vì lý do chậm ban hành giá dịch vụ.