
Nhiều loại thịt nhập khẩu giá cao kèm chất lượng được bày bán tại siêu thị - Ảnh: THY NHUNG
Thay vì nhìn vào các loại thịt nhập khẩu giá rẻ, chúng ta cũng cần có cái nhìn công bằng hơn về các loại thịt nhập khẩu khác nhau.
Không vơ đũa cả nắm là hàng kém chất lượng
"Giá rẻ như vậy có phải hàng kém chất lượng hoặc sắp hết hạn?" là thắc mắc của không ít người tiêu dùng. Trao đổi với Tuổi Trẻ, đại diện một doanh nghiệp nhập khẩu thịt đông lạnh, chuyên phân phối cho nhà hàng và quán ăn tại TP.HCM cho biết có ít nhất bốn nguyên nhân khiến một số loại thịt ngoại rẻ hơn hàng Việt.
Thứ nhất là quy mô sản xuất lớn. Brazil, Mỹ và nhiều nước châu Âu tổ chức chăn nuôi, giết mổ, pha cắt với sản lượng rất lớn. Riêng Brazil có lợi thế lớn về nguồn ngô và đậu tương - hai nguyên liệu chính của thức ăn chăn nuôi.
Bộ Nông nghiệp Mỹ dự báo sản lượng thịt heo Brazil năm 2026 đạt khoảng 4,9 triệu tấn. Nguồn thức ăn dồi dào giúp giảm giá thành ngay từ trang trại.
Theo doanh nghiệp, giá heo hơi tại Brazil có thời điểm thấp hơn Việt Nam 30-40%, trong khi người chăn nuôi trong nước phải chịu nhiều chi phí từ con giống, thức ăn, thuốc thú y đến kiểm soát dịch bệnh và khâu trung gian.

Người dân đang chọn mua thịt ở siêu thị - Ảnh: CÔNG TRUNG
Thứ hai là sự khác biệt về khẩu vị. Những phần thịt được người dân tại nước sản xuất ưa chuộng thường có giá cao. Các phần ít được sử dụng hơn như chân, cánh, da, mỡ, xương, nội tạng hoặc thịt vụn được xuất sang những thị trường có nhu cầu.
Lợi thế hàng đông lạnh và phương thức bán buôn, sản phẩm không phải được giết mổ, pha cắt và bán hết trong ngày như thịt nóng. Một container hàng có thể được chia cho nhiều nhà phân phối, bếp ăn và cơ sở chế biến, qua đó giảm chi phí trên mỗi sản phẩm.
Nguyên nhân nữa là thuế nhập khẩu giảm theo các hiệp định thương mại.
Theo lộ trình của EVFTA, thuế với thịt bò, cừu, heo, gia cầm và nội tạng từ Liên minh châu Âu được cắt giảm dần, giúp hàng châu Âu cạnh tranh hơn tại Việt Nam.
Khi mua thịt nhập khẩu, người mua cần kiểm tra nước xuất xứ, tên đơn vị nhập khẩu, ngày sản xuất, hạn sử dụng, điều kiện bảo quản và tình trạng bao bì.
Với sản phẩm được chia nhỏ từ thùng lớn, người mua nên yêu cầu điểm bán cung cấp nhãn gốc và thông tin lô hàng thay vì chỉ dựa vào quảng cáo "hàng ngoại giá rẻ".
Lợi thế của ngành thịt Brazil
Ông Nata Oliveira - Phó chủ tịch Phòng Thương mại Brazil tại Việt Nam - cho rằng lợi thế của ngành thịt Brazil trước hết đến từ quy mô lãnh thổ, nguồn tài nguyên và điều kiện khí hậu thuận lợi cho nông nghiệp, chăn nuôi. Năng lực sản xuất đậu tương và ngô lớn tạo nguồn thức ăn quan trọng cho bò vỗ béo, heo và gia cầm.

Các loại thịt từ nhập khẩu đến thịt trong nước được bày bán tại siêu thị - Ảnh: NGHI VŨ
Song song đó là quá trình chuyển từ mô hình chăn nuôi năng suất thấp sang hệ thống hiệu quả hơn, cải thiện về giống, dinh dưỡng, quản lý, sức khỏe vật nuôi và vỗ béo, giúp tăng trọng lượng và rút ngắn thời gian đạt trọng lượng giết mổ. Nghiên cứu ứng dụng thông qua EMBRAPA cũng phát triển nhiều công nghệ phù hợp với điều kiện nhiệt đới.
Thị trường nội địa hơn 200 triệu người tiêu dùng giúp ngành đạt quy mô công nghiệp và hình thành hệ sinh thái hoàn chỉnh từ giết mổ, logistics, nhà cung cấp giống đến thức ăn chăn nuôi. Riêng thịt bò, khoảng 66% sản lượng năm 2025 được tiêu thụ trong nước, 34% dành cho xuất khẩu.
Ở ngành thịt heo và gia cầm, sự liên kết giữa người chăn nuôi và các doanh nghiệp lớn giúp tăng mức độ tiêu chuẩn hóa, kiểm soát dịch bệnh và hiệu quả sản xuất.
Brazil cũng xây dựng năng lực lớn về giết mổ, chế biến, cấp đông, phân phối và tận dụng gần như toàn bộ vật nuôi.
Ngành này đã đầu tư nhiều thập niên vào kiểm soát vệ sinh, thanh tra, truy xuất nguồn gốc, hiện xuất khẩu tới hơn 150 quốc gia. Dẫn ước tính của USDA, năm 2025 Brazil chiếm khoảng 25% xuất khẩu thịt bò toàn cầu.
Giá cạnh tranh không đồng nghĩa chất lượng thấp
Về mức giá cạnh tranh, ông Oliveira cho rằng chênh lệch giá phần lớn đến từ chi phí, quy mô và năng suất chuỗi sản xuất. Cơ sở xuất khẩu phải đăng ký với Cơ quan Thanh tra Liên bang (SIF), tuân thủ quy định của Brazil và yêu cầu cụ thể của nước nhập khẩu dưới sự thanh tra, chứng nhận của Bộ Nông nghiệp và Chăn nuôi Brazil (MAPA).
Về truy xuất nguồn gốc, SISBOV là hệ thống chính thức nhận diện cá thể bò và trâu, được sử dụng để đáp ứng yêu cầu của những thị trường khắt khe.
Brazil cũng đang mở rộng nhận diện cá thể thông qua PNIB. Thịt bò Brazil được cung cấp ở nhiều phân khúc với tiêu chuẩn, phần thịt và hệ thống sản xuất khác nhau tùy theo yêu cầu của người mua.
Thị trường nhập khẩu phân hóa rõ rệt: một đầu là phụ phẩm và thịt đông lạnh bán theo thùng giá vài chục nghìn đồng một ký phục vụ quán ăn, bếp công nghiệp; đầu còn lại là các phần cắt cao cấp.

Giá thịt nhập khẩu - T.N. - AI hỗ trợ
Khảo sát cho thấy nạm bò Brazil có giá khoảng 179.000 đồng/kg, bò Úc 185.000 đồng/kg, bò Mỹ 202.000 đồng/kg, thăn nội bò Úc lên tới 565.000 đồng/kg;
Ba chỉ bò Úc và Mỹ đóng gói 500g dao động từ 189.000 - 199.000 đồng (tương đương 378.000 - 398.000 đồng/kg), lõi nạc vai bò hữu cơ OBE của Úc giá 565.000 đồng/kg, và sườn cừu New Zealand giá 508.000 đồng gói 500g (hơn 1 triệu đồng/kg).
Thịt nhập khẩu đang chiếm cả hai đầu thị trường: một đầu là hàng giá thấp và đầu còn lại là các phần cắt cao cấp dành cho khách hàng có khả năng chi trả cao.
Thức ăn chiếm khoảng 60-70% chi phí sản xuất
Ông Lasse Pedersen Hjortshøj, Trưởng bộ phận thương mại và đầu tư, Đại sứ quán Đan Mạch, cho rằng thị trường thịt heo có tính toàn cầu cao khi sản phẩm có thể được vận chuyển, giao thương giữa nhiều quốc gia.
Theo ông, khi Đan Mạch, các nước châu Âu, Brazil hay Trung Quốc dư thừa nguồn cung, lượng thịt này có thể được đưa sang các thị trường khác để tiêu thụ. Nguồn cung gia tăng cũng là một trong những yếu tố kéo giá xuống.
Trong bối cảnh đó, kinh nghiệm và giải pháp mà các doanh nghiệp Đan Mạch có thể đóng góp cho ngành chăn nuôi Việt Nam nằm ở nâng cao hiệu quả sản xuất, tức tạo ra nhiều sản phẩm hơn với ít đầu vào hơn.
Nhận định thêm, đại diện của Agrisys A/S, doanh nghiệp công nghệ nông nghiệp từ Đan Mạch, chia sẻ kinh nghiệm của Đan Mạch là người chăn nuôi phải liên tục tìm cách sản xuất với chi phí thấp hơn nhưng vẫn duy trì hiệu suất cao.

Các loại thịt nhập khẩu cũng có các chương trình khuyến mãi - Ảnh: THY NHUNG
Theo ông, muốn kéo giảm giá thành thịt heo, một trong những bài toán đầu tiên cần nhìn vào là chi phí để sản xuất mỗi kg thịt.
Thức ăn hiện chiếm khoảng 60–70% chi phí sản xuất, do đó chỉ cần cải thiện hiệu quả sử dụng thức ăn cũng có thể tạo ra khác biệt đáng kể. Công nghệ có thể hỗ trợ từ giai đoạn heo sau cai sữa, heo đang lớn đến giai đoạn vỗ béo.
Chẳng hạn, các hệ thống theo dõi trọng lượng giúp trang trại nắm được tốc độ tăng trưởng của đàn heo, từ đó điều chỉnh lượng thức ăn phù hợp thay vì cho ăn theo một công thức cố định.
Đặc biệt, với công nghệ cho ăn chính xác (precision feeding), lượng thức ăn có thể được điều chỉnh theo nhu cầu của vật nuôi, qua đó cải thiện tăng trọng và hệ số chuyển đổi thức ăn.
Mục tiêu, theo ông Nielsen, là giảm lượng thức ăn sử dụng nhưng không đánh đổi tốc độ tăng trưởng. Cách tiếp cận tương tự cũng được áp dụng với heo nái. Khi khẩu phần được tính toán phù hợp, một con nái có thể phát huy tốt hơn tiềm năng sinh sản, tạo ra nhiều heo con hơn trong khi thức ăn được sử dụng hiệu quả hơn.
"Nhiều heo hơn, nhiều thịt hơn nhưng chi phí thấp hơn - đó là nơi công nghệ có thể hỗ trợ", vị này chia sẻ.

Bảng so sánh lợi thế của ngành chăn nuôi Brazil và chăn nuôi trong nước - Ảnh: T.N.-AI hỗ trợ
Áp lực đè nặng lên ngành chăn nuôi trong nước
Trong khi đó, ngành chăn nuôi Việt Nam đứng trước nhiều khó khăn do dịch bệnh và giá cạnh tranh. Anh Quang, chủ trại heo ở Đồng Nai, chia sẻ quy mô đàn đã giảm từ hơn 1.000 con xuống còn 600 con.
Với chi phí nuôi khoảng 5,8 triệu đồng để một con heo đủ cân nặng xuất chuồng, giá heo hơi 56.000 - 58.000 đồng/kg hiện chỉ đủ huề vốn hoặc lỗ công sức. Anh đề xuất cơ quan nhà nước điều tiết lượng thịt nhập khẩu và ổn định giá thức ăn gia súc.

Giá cả đầu ngày: Khô cá đồng vào mùa, xà lách xoong tăng giá, heo hơi giảm còn 53.000 đồng/kgĐỌC NGAY
Ông Nguyễn Kim Đoán, Phó Chủ tịch Hiệp hội Chăn nuôi Đồng Nai, cho biết ngành chăn nuôi trong nước gặp khó khăn đầu tiên do dịch bệnh (đặc biệt là dịch tả heo châu Phi) khiến tỷ lệ hộ nông dân chăn nuôi giảm mạnh từ 80% xuống chỉ còn chiếm khoảng 20%, phần lớn 80% còn lại thuộc về doanh nghiệp.
Là nước nông nghiệp đứng thứ năm thứ sáu thế giới về chăn nuôi nhưng Việt Nam vẫn phải nhập khẩu trên 70% thức ăn chăn nuôi, việc lệ thuộc này đẩy giá thành sản xuất cao hơn nhiều so với nước ngoài như Brazil.
Trước thực tế các loại thịt heo nhập vào có giá 40.000 - 43.000 đồng/kg không đủ sức cạnh tranh và việc không thể cấm nhập khẩu, ông Đoán cho rằng giải pháp là quy định giới hạn, hạn mức nào đó cho các loại thịt nhập khẩu khi công nghệ nước ngoài thấp và thuế nhập khẩu bằng 0% tạo điều kiện cho hàng ngoại tràn vào.
Để đảm bảo an toàn khi mua sắm, người tiêu dùng khi lựa chọn sản phẩm cần kiểm tra kỹ nước xuất xứ, tên đơn vị nhập khẩu, ngày sản xuất, hạn sử dụng, điều kiện bảo quản và tình trạng bao bì.
Đối với sản phẩm được chia nhỏ từ thùng lớn, người mua nên yêu cầu điểm bán cung cấp nhãn gốc và thông tin lô hàng thay vì chỉ dựa vào quảng cáo "hàng ngoại giá rẻ".

Số liệu nhập khẩu các loại từ Brazil - Ảnh: T.N.-AI hỗ trợ
Brazil chiếm khoảng 31% lượng thịt heo nhập khẩu
Số liệu từ Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) cho thấy 7 tháng đầu năm 2026, Việt Nam nhập 112.090 tấn thịt heo tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh, trị giá 185,54 triệu USD. Brazil là nguồn cung lớn nhất, chiếm 44,5% tổng lượng nhập khẩu.
Giá nhập khẩu thịt heo bình quân từ các thị trường trong giai đoạn này ở mức 1.638 USD/tấn, tương đương khoảng 43.000 đồng/kg, giảm 38,4% so với cùng kỳ năm trước.
Một năm trước đó, Brazil chiếm khoảng 31% lượng thịt heo nhập khẩu của Việt Nam. Theo dữ liệu UN Comtrade, kim ngạch thịt heo tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh Brazil xuất sang Việt Nam trong năm 2025 đạt khoảng 145 triệu USD.
Với thịt bò, Việt Nam mở cửa thị trường cho Brazil trong năm 2025. Dữ liệu UN Comtrade cho thấy kim ngạch thịt bò đông lạnh Brazil xuất sang Việt Nam năm này đạt khoảng 8,15 triệu USD.
Theo Hiệp hội các ngành xuất khẩu thịt Brazil (ABIEC), trong 7 tháng đầu năm 2026, Việt Nam nhập 8.400 tấn thịt bò và các sản phẩm thuộc nhóm thống kê này từ Brazil, tăng 375,4% so với cùng kỳ. Số liệu bao gồm thịt bò tươi, chế biến, thịt muối cùng nội tạng, mỡ và lòng.
Từ vụ việc thịt nhập thành đặc sản Tây Bắc, cùng nhìn lại vì sao thịt trâu nhập khẩu Ấn Độ lại có sức hút ở thị trường Việt Nam đến vậy.