Quy mô đầu tư lớn đang mở ra kỳ vọng về một chu kỳ phát triển mới, nhưng phía sau những dự án này là câu chuyện về khả năng tạo ra tăng trưởng. PGS.TS Trần Đình Thiên, nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, nhận định Việt Nam sẽ cần một lượng vốn rất lớn trong ít nhất 10 năm tới để chuyển sang công nghệ cao và dịch vụ chất lượng cao. Vì vậy, với mỗi dự án, điều đáng quan tâm không chỉ là rót bao nhiêu tiền mà là công trình hoàn thành sẽ tạo ra những giá trị gì cho nền kinh tế.
Mở đường cho dòng vốn và dân cư
ThS Mã Xuân Tuấn, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Tư vấn Đầu tư Bất động sản TPHCM, phân tích điểm nổi bật của các dự án hạ tầng hiện nay không chỉ nằm ở quy mô đầu tư mà ở khả năng định hình lại không gian phát triển. Tại TPHCM, loạt dự án vừa khởi công dịp 2/9 cùng những dự án đang thi công, triển khai góp phần tạo điều kiện để thành phố chuyển từ mô hình đô thị đơn tâm sang đa cực.
Khi các trục giao thông mới hình thành, những khu vực ngoài trung tâm còn quỹ đất lớn và có khả năng kết nối vùng sẽ có thêm điều kiện phát triển khu đô thị, sản xuất, logistics, thương mại và dịch vụ. Dòng vốn vì thế có thể dịch chuyển ra ngoài khu vực lõi, thay vì tiếp tục tập trung vào những khu vực đã quá tải.
Xu hướng này không chỉ có ý nghĩa với TPHCM. Ở các đô thị lớn khác, khi hạ tầng liên vùng được hoàn thiện, các khu vực vệ tinh cũng có cơ hội đảm nhận những chức năng mà đô thị lõi không còn đủ dư địa để phát triển. Tuy nhiên, để tạo ra cực tăng trưởng mới, hạ tầng giao thông phải đi cùng quy hoạch đất đai, khu công nghiệp, logistics, nhà ở và dịch vụ.
Đặc biệt, với những dự án vượt qua ranh giới hành chính, sự phối hợp giữa các địa phương có ý nghĩa quyết định. Nếu một tuyến đường hoàn thành nhưng các đoạn kết nối, nút giao, giải phóng mặt bằng hoặc quy hoạch hai bên tuyến không đồng bộ, hiệu quả kinh tế sẽ bị hạn chế.

Phú Quốc là một trong những địa phương đang triển khai loạt dự án hạ tầng quy mô lớn (Ảnh: Lam Giang).
“Giá trị lớn nhất của loạt dự án không chỉ là giải quyết các điểm nghẽn giao thông hiện hữu mà còn mở ra những cực tăng trưởng mới. Qua đó từng bước định hình một cấu trúc đô thị TPHCM rộng hơn, đa trung tâm hơn và gắn kết chặt hơn với toàn vùng”, ông Tuấn nói.
Nhưng một công trình chỉ tạo ra giá trị lớn khi phía sau nó xuất hiện những hoạt động kinh tế mới. Một tuyến đường mở ra vùng đất mới nhưng không kéo theo nhà máy, khu đô thị, trung tâm logistics hay các dịch vụ đi kèm thì tác động đến tăng trưởng sẽ khó đạt như kỳ vọng.
Đây cũng là điểm PGS.TS Trần Đình Thiên đặc biệt lưu ý. Một dự án lớn chỉ thực sự phát huy giá trị khi kéo theo doanh nghiệp mới, ngành nghề mới, việc làm mới và những dòng vốn tiếp theo. Nếu chỉ dừng ở xây dựng công trình, hiệu quả sẽ chủ yếu tập trung trong thời gian thi công và khó tạo ra một chu kỳ tăng trưởng mới.
Điều này có thể nhìn rõ tại TPHCM sau khi mở rộng không gian phát triển. Quy hoạch mới tạo khả năng hình thành một tổ hợp gồm TPHCM, Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu, với những lợi thế bổ trợ nhau: TPHCM phát triển dịch vụ cao cấp, trung tâm tài chính quốc tế và đổi mới sáng tạo; Bình Dương là trung tâm công nghiệp công nghệ cao; Bà Rịa - Vũng Tàu phát huy lợi thế cảng biển nước sâu, logistics, kinh tế hàng hải và thương mại.
Điểm quan trọng là khả năng kết nối các trung tâm này. “Khi tổ hợp sức mạnh của ba trung tâm này lại, nó không phải là phép cộng mà sẽ là phép nhân”, ông nhận định.
Từ góc độ rộng hơn, làn sóng đầu tư vào giao thông, đô thị, cảng biển, sân bay, khu công nghiệp... đang tạo ra những không gian kinh tế mới trên cả nước. Nhưng để hiệu ứng lan tỏa mạnh, nền kinh tế phải đủ năng lực tiếp nhận dòng vốn và chuyển hóa thành hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Vốn phải tìm vào được nền kinh tế
Quy mô đầu tư ngày càng lớn cũng đặt ra câu hỏi về nguồn vốn. Trong báo cáo về nguồn vốn đầu tư của Việt Nam, Công ty Chứng khoán Maybank ước tính để đạt mục tiêu tăng trưởng GDP 10%/năm giai đoạn 2026-2030, Việt Nam cần khoảng 1.400-1.450 tỷ USD vốn đầu tư trong 5 năm, tương đương gần 290 tỷ USD mỗi năm, khoảng 7,54 triệu tỷ đồng.
Trong khi đó, vốn đầu tư công bình quân mỗi năm chỉ khoảng 1,6 triệu tỷ đồng, tương đương chưa đến 22% tổng nhu cầu vốn của nền kinh tế. Điều này cho thấy đầu tư công có thể đóng vai trò “vốn mồi”, tạo hạ tầng và mở đường, nhưng phần vốn còn lại phải được huy động từ khu vực tư nhân, FDI và hệ thống tài chính.

Tổng vốn đầu tư Việt Nam qua các giai đoạn (Nguồn: Maybank).
Một trong những hướng đang được TPHCM tính đến là mở rộng hợp tác với các tổ chức tài chính quốc tế để tìm kiếm những phương thức huy động vốn mới. Tại buổi tiếp ông Vikram Kumar, Giám đốc Khu vực phụ trách Cơ sở hạ tầng và Tài nguyên thiên nhiên khu vực châu Á - Thái Bình Dương của Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC), Phó Chủ tịch UBND TPHCM Nguyễn Công Vinh cho biết thành phố kỳ vọng tăng cường hợp tác với IFC trong phát triển hạ tầng, tài chính xanh, giao thông thông minh, kinh tế biển và xây dựng Trung tâm Tài chính Quốc tế tại TPHCM.
Trong lĩnh vực đường sắt đô thị, thành phố đặt mục tiêu đạt khoảng 200km metro vào năm 2030, 462km vào năm 2035 và 700km với 19 tuyến vào năm 2045. TPHCM mong muốn IFC hỗ trợ xây dựng các cơ chế tài chính sáng tạo, kết hợp đầu tư công, trái phiếu địa phương và vốn tư nhân; kết nối với các nhà đầu tư tổ chức quốc tế, đồng thời chia sẻ kinh nghiệm từ các dự án metro trong khu vực.
Nếu đầu tư công tạo ra hạ tầng ban đầu, khu vực tư nhân sẽ là lực lượng quan trọng để lấp đầy không gian phát triển mà hạ tầng đó mở ra.
Trao đổi với phóng viên Dân trí, ông Đặng Minh Trường, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Sun Group, cho hay khi Việt Nam bước vào giai đoạn bùng nổ hạ tầng với tốc độ giải ngân vốn đầu tư công tăng mạnh qua từng năm, áp lực cạnh tranh về nguồn cung vật liệu, logistics biển đảo và nhân lực chất lượng cao là bài toán chung của doanh nghiệp.
Đối với Sun Group, việc chuẩn bị cho APEC 2027 tại Phú Quốc không phải là một chiến dịch ngắn hạn mà là sự tiếp nối năng lực quản trị đã được tích lũy qua hàng trăm dự án trên khắp Việt Nam. Tập đoàn hợp tác với các đơn vị tư vấn quy hoạch, kiến trúc sư và các tập đoàn vận hành hàng đầu thế giới nhằm bảo đảm công tác thiết kế, quy hoạch và vận hành theo mô hình chuẩn quốc tế, qua đó kiểm soát tiến độ các dự án trong giai đoạn nước rút.
Từ câu chuyện huy động nguồn lực cho những dự án quy mô lớn, mô hình hợp tác công - tư (PPP) được đặt vào vị trí đáng chú ý. Kinh nghiệm tại một số quốc gia châu Á cho thấy khi khu vực tư nhân được trao cơ chế phù hợp, nguồn lực xã hội có thể được huy động để cùng Nhà nước phát triển những công trình mà ngân sách khó đáp ứng toàn bộ.
Ông Trường dẫn ví dụ Singapore và Hàn Quốc, nơi PPP được áp dụng trong nhiều dự án hạ tầng quy mô lớn. “Tại Việt Nam, bước đột phá lớn nhất hiện nay chính là tư duy chiến lược của Đảng và Nhà nước thông qua Nghị quyết số 68-NQ/TW. Đây là lời "bảo chứng" và trao niềm tin lịch sử cho kinh tế tư nhân tham gia sâu vào các công trình hạ tầng chiến lược quốc gia”, ông nói.
Nâng cao năng lực hấp thụ vốn
Tuy nhiên, có thêm nguồn vốn không đồng nghĩa nền kinh tế có thể hấp thụ ngay lượng tiền đó. TS Huỳnh Phước Nghĩa, Đại học Kinh tế TPHCM (UEH), cho rằng nhu cầu vốn cho hạ tầng, sản xuất, công nghệ và đổi mới sáng tạo ngày càng lớn trong khi ngân sách và tín dụng ngân hàng khó đáp ứng toàn bộ. Vì vậy, cần mở rộng nguồn lực từ đầu tư công, trái phiếu, đất đai, FDI, vốn doanh nghiệp, các quỹ đầu tư, M&A đến dòng vốn quốc tế.
Nhưng mở thêm kênh huy động mới chỉ là điều kiện cần. Quan trọng hơn là phải có dự án đủ tốt để dòng vốn đi vào nền kinh tế. “Muốn hấp thụ được vốn thì phải có sản phẩm. Vốn không tự nhiên chảy vào thị trường chỉ vì chúng ta kêu gọi”, ông Nghĩa nói.
Nhà đầu tư cần những dự án có pháp lý rõ ràng, mô hình khai thác cụ thể, dòng tiền và khả năng sinh lời có thể dự báo. Bởi vậy, nguồn lực đất đai cũng cần được khai thác theo hướng tạo giá trị lâu dài. Nếu chỉ sử dụng đất để tạo một khoản thu một lần, nguồn lực sẽ nhanh chóng cạn. Ngược lại, khi kết hợp đất đai với hạ tầng để hình thành khu đô thị, khu công nghiệp, logistics, thương mại - dịch vụ, giá trị đất có thể chuyển thành dòng tiền, nguồn thu và tiếp tục tạo vốn cho những vòng đầu tư sau.
Trung tâm Tài chính Quốc tế có thể trở thành một kênh giúp TPHCM kết nối với các dòng vốn bên ngoài. Tuy nhiên, nhà đầu tư quốc tế vẫn nhìn vào chất lượng doanh nghiệp, dự án, tính minh bạch, khả năng tạo dòng tiền và sự ổn định của chính sách. Vì thế, bài toán vốn không đơn thuần là tìm tiền cho từng dự án mà phải hình thành một vòng quay: thu hút vốn, hấp thụ vốn, tạo giá trị rồi tiếp tục hình thành nguồn lực mới.
Khi vòng quay đó được thiết lập, tác động của hạ tầng sẽ vượt ra ngoài phạm vi một công trình. Ông Neil MacGregor, CEO Savills Vietnam, cho rằng hiệu ứng từ hạ tầng có thể lan sang bất động sản, logistics, bán lẻ, khách sạn, tài chính và các dịch vụ chuyên môn. Khi kết nối với sân bay, cảng biển và đường cao tốc được cải thiện, thời gian di chuyển và chi phí vận hành giảm; doanh nghiệp có thêm lựa chọn về địa điểm sản xuất, logistics, người dân có thêm lựa chọn về nơi ở, còn các hoạt động thương mại, dịch vụ có thêm thị trường.
TPHCM ngày càng được nhìn nhận là trung tâm của một hệ sinh thái kinh tế rộng lớn hơn tại phía Nam. Hạ tầng mới có thể đưa dòng vốn đến những khu vực trước đây còn hạn chế về kết nối. Nhưng để hiệu ứng này bền vững, dự án phải có pháp lý rõ ràng, đáp ứng nhu cầu thực và bảo đảm chất lượng vận hành.
Với bất động sản - lĩnh vực có nhu cầu vốn lớn và thời gian đầu tư dài - khả năng hấp thụ nguồn lực phụ thuộc nhiều vào tiến độ pháp lý. Bà Nguyễn Thị Thanh Hương, Phó Chủ tịch Hội Môi giới bất động sản Việt Nam, cho rằng cần nhìn rộng hơn câu chuyện nguồn cung và tín dụng, bởi bất động sản đòi hỏi quy hoạch, chính sách, pháp lý và các kênh tài chính vận hành ổn định.
Một điểm nghẽn hiện nay là thời gian hoàn thiện pháp lý còn kéo dài, khiến nguồn lực đất đai chưa thể chuyển hóa thành dự án và giá trị kinh tế. Khi thủ tục được rút ngắn, minh bạch, đồng bộ, doanh nghiệp có thể giảm chi phí vốn, đồng thời dòng tiền của nhà đầu tư, ngân hàng và các chủ thể khác cũng có điều kiện vận hành hiệu quả hơn.
Đây cũng là điều kiện để các nguồn lực được khơi thông, giúp những dự án lớn không chỉ hoàn thành đúng tiến độ mà còn tạo thêm dư địa cho các hoạt động kinh tế phía sau.