Bỏ qua điều hướng
•

Sau tuổi 50, huyết áp bao nhiêu thì tăng nguy cơ đột quỵ?

Sau tuổi 50, huyết áp bao nhiêu thì tăng nguy cơ đột quỵ?
Nguồn ảnh: Thanh Niên

Khi tuổi tác tăng lên, mạch máu dần mất tính đàn hồi. Điều này khiến nhiều người sau tuổi 50 bắt đầu gặp các vấn đề như huyết áp cao, suy tim và đột quỵ. Trong đó, huyết áp cao là yếu tố có thể kiểm soát được.

Huyết áp bao nhiêu được xem là tăng nguy cơ đột quỵ?

Huyết áp ở người trưởng thành được xác định dựa trên 2 chỉ số. Chẳng hạn, huyết áp dưới 120/80 mmHg được xem là bình thường. Huyết áp tâm thu là số đầu tiên, thể hiện áp lực trong động mạch khi tim co bóp. Huyết áp tâm trương là số theo sau, thể hiện áp lực khi tim giãn ra giữa các nhịp đập, theo chuyên trang sức khỏe Healthline (Mỹ).

Qua tuổi 50: huyết áp bao nhiêu sẽ làm tăng nguy cơ đột quỵ? - Ảnh 1.

Huyết áp cao trong thời gian dài sẽ làm tăng nguy cơ mắc đột quỵ đột quỵ thiếu máu não và đột quỵ xuất huyết

ẢNH MINH HỌA: N.Quý tạo từ ChatGPT

 

Nếu chỉ số tâm thu từ 140 mmHg hoặc tâm trương từ 90 mmHg trở lên thì bị xem là huyết áp cao. Thế nhưng, tình trạng này kéo dài sẽ làm tăng nguy cơ tổn thương mạch máu não và đột quỵ.

Vì sao huyết áp cao lại tăng rủi ro đột quỵ?

Huyết áp cao kéo dài tạo áp lực lớn lên thành động mạch, từ đó làm tổn thương lớp lót bên trong mạch máu và hình thành mảng xơ vữa. Khi mạch máu bị hẹp hoặc mất tính đàn hồi, lưu thông máu đến não sẽ bị giảm.

Đột quỵ có hai loại chính. Đột quỵ thiếu máu não xảy ra khi mạch máu cung cấp máu cho não bị tắc nghẽn, khiến tế bào não không nhận đủ ô xy. Trong khi đó, đột quỵ xuất huyết xảy ra khi mạch máu trong não bị vỡ, gây chảy máu và làm tổn thương mô não. Huyết áp cao sẽ làm tăng rủi ro với cả hai loại đột quỵ.

Huyết áp bao nhiêu cần đi khám?

Người trên 50 tuổi nên trao đổi với bác sĩ nếu huyết áp thường xuyên ở mức từ 130/80 mmHg trở lên. Bác sĩ sẽ đánh giá kết quả đo, tiền sử bệnh, nguy cơ tim mạch để xác định có cần điều trị bằng thuốc hay không. Nếu huyết áp thường xuyên từ 140/90 mmHg trở lên, người bệnh càng không nên trì hoãn việc thăm khám.

Đặc biệt, nếu huyết áp vượt mức 180/120 mmHg kèm đau ngực, khó thở, yếu hoặc tê đột ngột, thay đổi thị lực hay khó nói, cần gọi cấp cứu ngay, chuyên gia tim mạch dự phòng Keith Ferdinand, giáo sư y khoa tại Đại học Tulane (Mỹ), cho biết.

Làm sao để giảm nguy cơ đột quỵ do huyết áp cao?

Kiểm soát huyết áp cần kết hợp nhiều biện pháp. Trước hết, nên giảm lượng muối trong chế độ, hạn chế thực phẩm chế biến sẵn, đồ muối mặn và nước chấm chứa nhiều muối. Đồng thời, tăng cường rau củ, trái cây, ngũ cốc nguyên hạt. Tập luyện thường xuyên cũng rất quan trọng.

Với người đã được chẩn đoán huyết áp cao, cần dùng thuốc đúng liều và đúng lịch theo hướng dẫn. Không tự ý ngừng thuốc khi thấy huyết áp trở về bình thường. Vì kết quả tốt có thể chính là nhờ tác dụng của thuốc, theo Healthline.

Sau tuổi 50, sự suy giảm tính đàn hồi của thành mạch khiến huyết áp cao trở thành căn nguyên hàng đầu dẫn đến đột quỵ. Chỉ số huyết áp bình thường ở người trưởng thành duy trì dưới mức 120/80 mmHg, trong khi tình trạng vượt ngưỡng 140/90 mmHg kéo dài sẽ trực tiếp hủy hoại lớp nội mạc động mạch. Sự tổn thương cấu trúc này vừa thúc đẩy hình thành mảng xơ vữa gây tắc nghẽn thiếu máu não, vừa làm suy yếu thành mạch dẫn tới nguy cơ đột quỵ xuất huyết nguy hiểm. Theo chuyên trang Healthline, người trên 50 tuổi cần chủ động tham vấn y tế khi huyết áp thường xuyên ghi nhận từ 130/80 mmHg trở lên để được đánh giá rủi ro tim mạch toàn diện. Trường hợp chỉ số liên tục chạm mốc 140/90 mmHg, người bệnh không được trì hoãn phác đồ điều trị chuyên khoa. Giáo sư Keith Ferdinand thuộc Đại học Tulane khuyến cáo mức huyết áp vượt 180/120 mmHg đi kèm khó thở, đau ngực, tê yếu hoặc rối loạn thị lực là tình trạng cấp cứu tối khẩn. Việc kiểm soát huyết áp đòi hỏi sự phối hợp nghiêm ngặt giữa điều chỉnh lối sống và tuân thủ y lệnh. Chế độ dinh dưỡng cần cắt giảm muối, hạn chế thực phẩm chế biến sẵn, đồng thời gia tăng rau củ, trái cây, ngũ cốc nguyên hạt và duy trì rèn luyện thể chất đều đặn. Đối với bệnh nhân đã được chỉ định dùng thuốc, tuyệt đối không tự ý ngưng điều trị ngay cả khi chỉ số đã ổn định, bởi kết quả bình thường này vốn là nhờ tác dụng bảo vệ liên tục của dược phẩm.
amung