Tại Diễn đàn Khoa học và Hợp tác quốc tế trong Ung thư và Y học hạt nhân, do Bệnh viện Đa khoa Phương Đông tổ chức hôm 17/10, GS.TS Mai Trọng Khoa, nguyên Phó giám đốc Bệnh viện Bạch Mai, cho biết Việt Nam thuộc nhóm quốc gia có gánh nặng ung thư gan cao trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương.
Theo số liệu GLOBOCAN 2024 của Cơ quan Nghiên cứu Ung thư Quốc tế (IARC) vừa công bố hồi tháng 7, Việt Nam ước tính ghi nhận 177.404 ca ung thư mới và 111.015 trường hợp tử vong do ung thư trong năm. Trong đó, ung thư gan và đường mật trong gan có khoảng 14.500 ca mắc mới, đứng thứ tư về số ca mắc, sau ung thư vú, phổi và đại trực tràng.
Tuy nhiên, với hơn 13.660 trường hợp tử vong, nhóm bệnh này đứng thứ hai về số ca tử vong do ung thư, chỉ sau ung thư phổi. Khoảng cách giữa số ca mắc mới và số trường hợp tử vong cho thấy gánh nặng đáng kể của bệnh, đồng thời đặt ra yêu cầu cấp thiết về phòng ngừa, phát hiện sớm và quản lý các nhóm nguy cơ cao.
Bác sĩ thao tác trên máy xạ trị ung thư. Ảnh: Bệnh viên cung cấp
Theo GS Khoa, tỷ lệ ung thư gan cao tại Việt Nam không xuất phát từ một nguyên nhân đơn lẻ mà là hệ quả của nhiều yếu tố, bao gồm bệnh lý nền, môi trường và thói quen sinh hoạt. Trong đó, viêm gan virus, đặc biệt là viêm gan B, C là một trong những yếu tố nguy cơ quan trọng. Tình trạng viêm gan kéo dài có thể gây tổn thương tế bào gan, thúc đẩy quá trình xơ hóa, dẫn đến xơ gan và làm tăng nguy cơ phát triển ung thư gan.
Bên cạnh bệnh lý nền, sử dụng rượu bia kéo dài có thể gây tổn thương gan, làm tăng nguy cơ xơ gan và ung thư. Một số yếu tố khác như tiếp xúc với chất độc hại, thực phẩm nhiễm độc tố nấm mốc, các biến đổi gene và yếu tố di truyền cũng có thể liên quan đến sự phát triển của bệnh.
Ung thư gan hiện có nhiều phương pháp điều trị như phẫu thuật, can thiệp tại chỗ, nút mạch, xạ trị, điều trị nhắm trúng đích và miễn dịch. Tuy nhiên, không phải bệnh nhân nào cũng có thể áp dụng đầy đủ các phương pháp này hoặc đạt kết quả tương tự nhau.
"Với một số loại ung thư, nếu khối u còn nhỏ và được điều trị đúng cách, người bệnh có cơ hội khỏi bệnh hoặc sống lâu dài. Trong khi đó, ung thư gan thường xuất hiện trên nền gan đã bị tổn thương bởi viêm gan mạn tính hoặc xơ gan. Điều này khiến việc lựa chọn phương pháp điều trị trở nên phức tạp hơn", GS Khoa nói.
PGS.TS Trần Đình Hà, Phó giám đốc Bệnh viện Đa khoa Phương Đông, chia sẻ tại diễn đàn. Ảnh: Thuỳ Dương
PGS.TS Trần Đình Hà, Phó giám đốc Bệnh viện Đa khoa Phương Đông, cũng cho rằng ung thư gan phát hiện muộn không chỉ làm giảm cơ hội điều trị hiệu quả mà còn có thể kéo theo chi phí lớn, thời gian điều trị kéo dài và gánh nặng cho gia đình. Vì vậy, bên cạnh phát triển các kỹ thuật điều trị mới, cần chú trọng phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm, đánh giá chính xác tình trạng khối u và chức năng gan, từ đó cá thể hóa phương án điều trị. Đặc biệt, việc sàng lọc và theo dõi có hệ thống ở nhóm nguy cơ cao là khâu cần được tăng cường.
Người nhiễm viêm gan B hoặc C cần tuân thủ hướng dẫn điều trị, kiểm tra sức khỏe và đánh giá tình trạng gan theo lịch hẹn. Với những người thuộc nhóm nguy cơ cao, bác sĩ có thể chỉ định theo dõi bằng siêu âm gan, xét nghiệm máu và các phương pháp phù hợp khác nhằm phát hiện sớm dấu hiệu bất thường.
Bên cạnh đó, kiểm soát tốt viêm gan virus, hạn chế rượu bia, phòng ngừa tổn thương gan và duy trì lối sống lành mạnh là những biện pháp quan trọng giúp giảm nguy cơ bệnh. Tiêm vaccine viêm gan B cũng góp phần phòng ngừa nhiễm virus và giảm nguy cơ ung thư gan liên quan đến virus này.
Như tại Nhật Bản, nơi việc theo dõi sức khỏe, khám lâm sàng, siêu âm gan và xét nghiệm máu được kết hợp trong quy trình đánh giá nguy cơ. Theo các chuyên gia, xây dựng hệ thống giám sát định kỳ, tập trung vào những người có nguy cơ cao, là hướng Việt Nam cần quan tâm.
Lê Nga