Theo phản ánh của bà Đ.T.M.T (TPHCM), đất của bố mẹ bà là gia đình tự khai phá, sử dụng ổn định từ trước năm 1975 và đã được quản lý theo Chỉ thị số 299/TTg ngày 10/11/1980. Nguồn gốc sử dụng đất này cũng đã được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai Quận 7 xác nhận ngày 30/7/2024.
Tháng 3/1980, bố mẹ bà T. xây dựng nhà cấp 4 trên thửa đất và thực hiện nghĩa vụ nộp thuế nhà, đất từ năm 1992 đối với đất ở và công trình xây dựng trên đất.
Năm 1998, bố mẹ bà được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trong đó loại đất được ghi là LNK (ký hiệu loại đất thuộc đất trồng cây lâu năm - PV). Đến năm 2006, phiếu công khai thông tin hiện trạng nhà, đất của TPHCM xác định thửa đất là đất ở tại đô thị.
Ngoài ra, giấy xác nhận của UBND phường Tân Hưng ngày 25/11/2025 cũng nêu rõ hồ sơ lưu trữ tại địa phương không có quyết định xử phạt vi phạm hành chính về xây dựng đối với thửa đất này.
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của một gia đình ở Thanh Hóa (Ảnh minh họa: Sơn Nguyễn).
Sau khi bố mẹ qua đời, gia đình bà T. thực hiện thủ tục đăng ký biến động và thừa kế quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, Văn phòng Đăng ký đất đai TPHCM, Chi nhánh số 7, không tiếp nhận hồ sơ, đồng thời yêu cầu bà liên hệ UBND phường Tân Hưng để xin quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.
Cơ quan này cũng cho rằng hồ sơ thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 139 Luật Đất đai 2024, liên quan đến đất có vi phạm pháp luật đất đai trước ngày 1/7/2014.
Từ thực tế trên, công dân băn khoăn việc cơ quan đăng ký đất đai yêu cầu bà cung cấp quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai nhưng không xác định rõ hành vi vi phạm, thời điểm vi phạm là năm 1980 hay năm 2026 có đúng quy định hay không.
Đồng thời, bà cũng đề nghị làm rõ trường hợp của gia đình có thuộc đối tượng áp dụng khoản 4 Điều 3 Nghị định 123/2024/NĐ-CP; điểm a, điểm e khoản 1, điểm a khoản 3 Điều 137 và điểm b khoản 1 Điều 141 Luật Đất đai 2024 hay không.
Do không có đầy đủ thông tin và hồ sơ liên quan, Bộ Nông nghiệp và Môi trường không có cơ sở để đưa ra kết luận đối với trường hợp này mà chỉ có ý kiến mang tính nguyên tắc.
Bộ cho biết, nội dung công dân phản ánh là vụ việc cụ thể, cần được xem xét trên cơ sở hồ sơ lưu trữ và các quy định do địa phương ban hành theo thẩm quyền. Tuy nhiên Bộ cũng đưa ra ý kiến chung về nội dung này.
Theo phản ánh của bà T., thửa đất đã được sử dụng làm đất ở từ năm 1980, gia đình đã thực hiện nghĩa vụ nộp thuế nhà, đất ở và công trình xây dựng từ năm 1992. Tuy nhiên, năm 1998, thửa đất lại được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với mục đích sử dụng là đất trồng cây lâu năm.
Bộ cho biết, theo điểm d khoản 2 và điểm d khoản 3 Điều 152 Luật Đất đai, nếu bà cho rằng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp năm 1998 không đúng mục đích sử dụng đất thực tế thì có thể gửi văn bản kiến nghị đến UBND cấp xã nơi có đất.
Sau khi tiếp nhận kiến nghị, UBND cấp xã có trách nhiệm kiểm tra, xem xét và quyết định việc thu hồi giấy chứng nhận đã cấp, đồng thời thực hiện cấp lại giấy chứng nhận theo quy định tại khoản 7 Điều 152 Luật Đất đai.
Trường hợp cơ quan có thẩm quyền kiểm tra hồ sơ và xác định việc cấp giấy chứng nhận năm 1998 với mục đích sử dụng đất trồng cây lâu năm là đúng quy định pháp luật, thì việc sử dụng đất ở trên thửa đất này sẽ được xem xét theo khoản 3 Điều 139 Luật Đất đai 2024, đối với trường hợp sử dụng đất không đúng mục đích đã được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất.
Đối với hành vi tự ý chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp mà không được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép thì thời điểm để tính thời hiệu xử phạt là thời điểm người có thẩm quyền thi hành công vụ phát hiện hành vi vi phạm theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 3 Nghị định số 123/2024/NĐ-CP.