Khi AI phát triển từng giờ và ngày càng có khả năng thay thế con người trong nhiều vị trí công việc, trường đại học cần thay đổi như thế nào trong đào tạo để sinh viên ra trường có việc làm và thế nào là một sinh viên xuất sắc trong mắt nhà tuyển dụng là một trong những vấn đề được nhiều chuyên gia quan tâm thảo luận tại Hội nghị quốc tế về hợp tác giáo dục trong kỷ nguyên số. Hội nghị do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức trong hai ngày 8 và 9/10, tại Hà Nội, với sự tham gia của khoảng 800 đại biểu từ 40 quốc gia và vùng lãnh thổ.
Theo các chuyên gia, mô hình năng lực của người học đã thay đổi từ mô hình chữ I với một chuyên môn sâu sang mô hình chữ M với yêu cầu đa dạng hơn.
Yêu cầu về năng lực số ngày càng tăng
Nghiên cứu của Trường Đại học Anh với 375 công ty trong và ngoài nước cho thấy 94% nhà tuyển dụng cho biết họ đã đòi hỏi cao hơn về năng lực số và AI so với hai, ba năm trước; 36% doanh nghiệp kỳ vọng người tốt nghiệp có thể ứng dụng AI để giải quyết các vấn đề thuộc chức năng chuyên môn cụ thể. Sử dụng AI đang trở nên thông thường như sử dụng Word hay Excel..
Theo Giáo sư Rick Bennett, Phó Hiệu trưởng kiêm Phó Chủ tịch, Trường Đại học Anh Quốc Việt Nam, câu hỏi đặt ra không còn là “sinh viên có nên sử dụng AI không” mà là sinh viên nên sử dụng AI như thế nào cho thông minh, có tư duy phản biện và có khả năng sáng tạo? Làm thế nào để các trường chuẩn bị cho sinh viên tốt nghiệp đáp ứng đòi hỏi thực tế của sự phát triển?
Cùng quan điểm này, ông Fouad Abd-El-Khalick, Hiệu trưởng, Phó Chủ tịch phụ trách học thuật, Đại học Massachusetts Amherst (UMass Amherst, Mỹ) khẳng định vai trò của AI trong việc hỗ trợ học tập tại các cơ sở giáo dục đại học và nguồn nhân lực của tương lai.
Ông cho biết tại Đại học Massachusetts Amherst, trường không chỉ dùng AI để phục vụ việc học tập, nghiên cứu, giảng dạy mà còn ngược lại còn nghiên cứu, phát triển AI để phục vụ cộng đồng. Để phục vụ học tập, nghiên cứu và giảng dạy, Đại học Massachusetts Amherst đã tạo sandbox AI cho giảng viên, sinh viên sử dụng trong khuôn viên trường để bảo đảm an toàn cho người dùng. Việc sử dụng AI được xây dựng ở các khoa, các ngành trong nhà trường khác nhau, tuỳ theo nhu cầu học tập.
Cùng chia sẻ về vấn đề này, Tiến sỹ Nguyễn Sung, Phó Tổng Giám đốc Nghiên cứu và Phát triển Công nghệ, Tập đoàn Nguyễn Hoàng cho rằng khi sinh viên ra trường, năng lực được thể hiện qua tấm bằng phải tương thích với môi trường số bên ngoài. Người học không thể chỉ học lý thuyết về công nghệ. Các em cần được thực hành trong môi trường thông minh, môi trường AI và các mô hình vận hành gần với thực tế. Vì vậy, các trường đại học cần có những không gian thử nghiệm được quan sát và giám sát. Những môi trường thử nghiệm này giúp sinh viên tiếp cận công nghệ mới, rèn năng lực sử dụng công nghệ và hiểu rõ giới hạn của công nghệ trước khi bước vào thị trường lao động.
Kết quả nghiên cứu của Trường Đại học Anh quốc Việt Nam cũng cho thấy dù yêu cầu công nghệ số của các doanh nghiệp ngày càng cao nhưng không phải gắn với các kỹ năng như lập trình mà là khả năng ứng dụng công nghệ, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo vào giải quyết các vấn đề cụ thể trong công việc.
Năng lực số là chưa đủ
Nghiên cứu của Trường Đại học Anh quốc Việt Nam cũng chỉ ra năng lực số chỉ là một trong 7 năng lực được doanh nghiệp đánh giá cao, các yếu tố còn lại thuộc về kỹ năng con người như thái độ và mức độ phù hợp với văn hoá doanh nghiệp, kỹ năng giao tiếp, khả năng thích ứng, tư duy phản biện, làm việc nhóm và hợp tác, kỹ năng quản lý thời gian. Điều đáng quan tâm hơn nữa là các yếu tố này của tân cử nhân đều chưa đạt mong đợi của nhà tuyển dụng, cho thấy khoảng trống trong giáo dục đại học so với nhu cầu thị trường.
Ông Paul Julian Bennett, Giám đốc Khối Marketing và Tuyển sinh, Trường Đại học Anh Quốc Việt Nam cho rằng điều này có sự tương đồng với thời điểm cây ATM ra đời, nhiều ý kiến cho rằng ngân hàng sẽ không cần nhiều giao dịch viên. Tuy nhiên, số nhân viên ngân hàng vẫn tăng, công việc chính của họ không còn là nhận và trả tiền cho khách hàng mà là thấu hiểu, tư vấn, xây dựng quan hệ và tạo dựng niềm tin.
“Có những nền tảng không thay đổi. Khả năng xây dựng quan hệ, tạo dựng niềm tin và hợp tác luôn là cách con người tạo ra giá trị. Những năng lực ấy vẫn sẽ thiết yếu trong thời đại AI. Với giáo dục đại học, câu hỏi đặt ra là: khi AI đảm nhiệm những công việc mà người mới tốt nghiệp trước đây thường làm ở bước đầu sự nghiệp, những năng lực nào sẽ giúp họ tạo ra giá trị trong môi trường làm việc do công nghệ dẫn dắt?” ông Paul Julian Bennett nói.
Mô hình năng lực chữ M
Giám đốc Khối Marketing và Tuyển sinh, Trường Đại học Anh Quốc Việt Nam cho rằng kỳ vọng đối với giáo dục đang vượt ra ngoài bằng cấp, hướng tới những người tốt nghiệp có khả năng đóng góp trong một nền kinh tế số và kết nối. Ba chiều năng lực cốt lõi hiện nay chính là năng lực số, kỹ năng con người và tư duy toàn cầu.
Theo ông Paul Julian Bennett, trong một thời gian dài, năng lực của người tốt nghiệp đại học được mô tả theo mô hình chữ I: có chiều sâu trong một chuyên môn, tạo nền tảng ổn định trong sự nghiệp.
Khi công việc trở nên gắn kết hơn, chiều sâu trong một chuyên môn không còn đủ, mô hình chữ T bổ sung một thanh ngang thể hiện nền tảng kiến thức rộng: khả năng kết nối kiến thức chuyên môn với các lĩnh vực, đội ngũ và bối cảnh khác.
Ngày nay, mô hình ấy một lần nữa đứng trước thử thách. AI mở rộng những gì công nghệ có thể làm, toàn cầu hoá mở rộng những bối cảnh mà người tốt nghiệp phải tham gia. Điều đó đòi hỏi một mô hình mới.
Ông Paul Julian Bennett khẳng định nền tảng vẫn là chuyên môn làm điểm tựa cho sự nghiệp, dù đó là marketing, kế toán, phát triển trò chơi hay một lĩnh vực khác, được xác nhận bằng bằng cấp. Tuy nhiên, bằng cấp mở ra cơ hội nhưng lại không quyết định kết quả cuối cùng. Sự khác biệt ngày nay nằm ở những năng lực người tốt nghiệp xây dựng quanh nền tảng chuyên môn.
Bên cạnh chuyên môn, cùng nằm dưới thanh ngang kiến thức rộng, là hai trụ cột bổ sung: năng lực số và kỹ năng con người. Những năng lực này định hình cách người tốt nghiệp vận dụng kiến thức, thích ứng với thay đổi và làm việc với cả công nghệ lẫn con người.
Toàn bộ cấu trúc đó nằm trong một vòng tròn: tư duy toàn cầu. Tư duy này kết nối các trụ cột và giúp người tốt nghiệp vận dụng năng lực trong những nền văn hoá, thị trường và bối cảnh khác nhau.
“Mô hình hình chữ M giúp người tốt nghiệp đại học tạo ra giá trị vượt ra ngoài phạm vi trong nước, đồng thời phù hợp với định hướng phát triển công dân toàn cầu của Nghị quyết 71. Mô hình chữ I dành cho công việc ổn định. Mô hình chữ T dành cho công việc có tính kết nối. Mô hình chữ M dành cho một thế giới không ngừng thay đổi,” ông Paul Julian Bennett nói./.
(Vietnam+)