Bỏ qua điều hướng
•

Thành phố Hồ Chí Minh mở hướng phát hành trái phiếu đô thị quốc tế

Thành phố Hồ Chí Minh mở hướng phát hành trái phiếu đô thị quốc tế
Nguồn ảnh: VietnamPlus (TTXVN)

Để trái phiếu đô thị trở thành kênh huy động vốn thực chất, Thành phố Hồ Chí Minh cần chuẩn bị nền tảng tín nhiệm, phương án trả nợ và cơ chế quản trị rủi ro đủ sức thuyết phục nhà đầu tư. Nguồn vốn đầu tư cao tốc rất lớn, mở ra cơ hội cho nhà đầu tư, doanh nghiệp Phát triển hạ tầng đồng bộ: Siết kỷ...

Thành phố Hồ Chí Minh đang bước vào giai đoạn đầu tư hạ tầng quy mô lớn, với hàng loạt dự án metro, đường vành đai, cao tốc và công trình kết nối vùng, chỉnh trang đô thị.

​

Cùng với yêu cầu huy động nguồn lực khổng lồ, bài toán đặt ra là tìm kiếm các kênh tài chính dài hạn, có khả năng kết nối dòng vốn quốc tế. Trong đó, phát hành trái phiếu đô thị thông qua Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh (VIFC-HCMC) được kỳ vọng mở thêm hướng tiếp cận nguồn vốn toàn cầu, góp phần tạo nền tảng tài chính cho chu kỳ phát triển hạ tầng mới của thành phố.

​

Phóng viên TTXVN thực hiện chùm hai bài về "Khơi thông dòng vốn dài hạn cho hạ tầng Thành phố Hồ Chí Minh."

Bài cuối: Mở hướng phát hành trái phiếu đô thị quốc tế

Việc Luật Phát triển đô thị mở thêm cơ chế huy động vốn thông qua Trung tâm Tài chính quốc tế tại Việt Nam (VIFC) tạo cơ sở để Thành phố Hồ Chí Minh tiếp cận các nguồn vốn dài hạn từ thị trường quốc tế, phục vụ phát triển hạ tầng.

Tuy nhiên, để trái phiếu đô thị trở thành kênh huy động vốn thực chất, thành phố cần chuẩn bị nền tảng tín nhiệm, phương án trả nợ và cơ chế quản trị rủi ro đủ sức thuyết phục nhà đầu tư.

Mở kênh huy động vốn quốc tế qua VIFC

Luật Phát triển đô thị được Quốc hội thông qua tháng 8/2026, dự kiến có hiệu lực từ ngày 1/10/2026, bổ sung các cơ chế đặc thù về huy động vốn; trong đó có thẩm quyền liên quan đến phát hành trái phiếu chính quyền địa phương và vay vốn từ các tổ chức tài chính trong nước, quốc tế.

Theo chuyên gia Huỳnh Văn Sinh, giảng viên Học viện Cán bộ Thành phố Hồ Chí Minh, trên cơ sở Luật Phát triển đô thị và thực tiễn triển khai, Thành phố Hồ Chí Minh có thể đa dạng hóa các công cụ nợ trên thị trường vốn, từ trái phiếu chính quyền địa phương, trái phiếu dự án, trái phiếu công trình đến trái phiếu đô thị và trái phiếu xanh, phù hợp với xu hướng tài chính bền vững quốc tế.

Đáng chú ý, cơ chế mới cho phép phát hành trái phiếu đô thị, trái phiếu công trình tại VIFC, mở ra khả năng tiếp cận trực tiếp dòng vốn quốc tế. Đây được xem là bước mở rộng đáng kể về không gian huy động vốn, trong bối cảnh nhu cầu đầu tư hạ tầng của thành phố ngày càng lớn, trong khi nguồn lực ngân sách có giới hạn.

Trên thực tế, trái phiếu đô thị không phải là công cụ tài chính mới tại Việt Nam. Thành phố Hồ Chí Minh đã có kinh nghiệm phát hành từ khá sớm, song các đợt phát hành chưa diễn ra thường xuyên, quy mô còn hạn chế. Năm 2020, thành phố huy động 2.000 tỷ đồng qua đợt phát hành trái phiếu chính quyền địa phương.

Trong bối cảnh nhu cầu vốn đầu tư hạ tầng tăng mạnh, việc khơi thông lại kênh trái phiếu đô thị được đặt ra như một giải pháp bổ sung nguồn lực trung và dài hạn, bên cạnh ngân sách, tín dụng ngân hàng và vốn đầu tư tư nhân.

Với đặc thù các dự án giao thông, metro và hạ tầng kỹ thuật có thời gian triển khai, khai thác và hoàn vốn kéo dài, việc phát triển công cụ nợ phù hợp có ý nghĩa quan trọng trong cơ cấu lại nguồn vốn đầu tư.

ttxvn_ha-tang-tphcm.jpg
Các phương tiện lưu thông trên tuyến đường đầu tiên thuộc dự án rạch Xuyên Tâm. (Ảnh: Tiến Lực/TTXVN)

Theo Bộ Tài chính, đến cuối năm 2025, quy mô thị trường trái phiếu Việt Nam đạt khoảng 3,93 triệu tỷ đồng, tương đương 30,7% GDP ước tính. Trong số đó, thị trường trái phiếu Chính phủ đạt khoảng 2,62 triệu tỷ đồng, tương đương 20,5% GDP. Dù quy mô thị trường đã mở rộng, trái phiếu chính quyền địa phương vẫn chưa trở thành kênh huy động vốn thường xuyên.

Ngân hàng Thế giới cũng nhiều lần khuyến nghị phát triển thị trường trái phiếu địa phương, gắn với nâng cao hiệu quả đầu tư công, minh bạch tài chính và quản lý nợ địa phương. Điều này cho thấy bên cạnh việc mở rộng quy mô thị trường vốn, yêu cầu đặt ra là xây dựng cơ chế phát hành và quản trị nợ đủ minh bạch để thu hút nhà đầu tư dài hạn.

Với quy mô kinh tế lớn, đóng góp đáng kể vào GDP và nguồn thu ngân sách quốc gia, Thành phố Hồ Chí Minh có nền tảng kinh tế và tài khóa để phát triển thị trường vốn đô thị. Tuy nhiên, lợi thế về quy mô kinh tế cần được chuyển hóa thành năng lực tín nhiệm và khả năng tiếp cận vốn cụ thể thông qua các cơ chế phát hành, quản lý và hoàn trả nghĩa vụ nợ.

Phó giáo sư-Tiến sỹ Nguyễn Hữu Huân, Phó Chủ tịch Cơ quan điều hành VIFC-HCMC, cho biết cơ quan này đang xây dựng dự thảo nghị quyết về phát hành trái phiếu chính quyền địa phương qua VIFC để trình Hội đồng Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xem xét. Sau khi nghị quyết được thông qua và có hiệu lực, thành phố sẽ có cơ sở triển khai các bước tiếp theo.

Theo ông Huân, trái phiếu đô thị quốc tế là một trong những sản phẩm nền tảng của VIFC-HCMC, góp phần đa dạng hóa nguồn vốn cho thành phố, đồng thời giảm áp lực lên ngân sách và tín dụng ngân hàng. Nguồn vốn huy động có thể phục vụ các dự án hạ tầng như metro, đường vành đai và những công trình có vai trò thúc đẩy phát triển kinh tế.

Điểm mới của cơ chế này là mở thêm khả năng tiếp cận nhà đầu tư quốc tế, thay vì chủ yếu dựa vào thị trường trong nước như các đợt phát hành trước đây. Thông qua VIFC, Thành phố Hồ Chí Minh có điều kiện nghiên cứu các cấu trúc phát hành phù hợp với thông lệ quốc tế, đa dạng hóa cơ sở nhà đầu tư và kỳ hạn huy động vốn.

Xây dựng tín nhiệm, bảo đảm khả năng trả nợ

Theo các chuyên gia, việc mở rộng quyền huy động vốn không đồng nghĩa thành phố có thể vay vốn không giới hạn. Các khoản vay và nghĩa vụ nợ vẫn phải được đặt trong giới hạn an toàn tài chính, trần nợ và khả năng cân đối nguồn trả nợ.

Khả năng tiếp cận thị trường quốc tế vì vậy không chỉ phụ thuộc vào cơ chế pháp lý, mà còn vào chất lượng tín dụng của chủ thể phát hành và mức độ minh bạch của phương án sử dụng vốn.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy trái phiếu đô thị được thiết kế theo năng lực tín dụng, tính chất dự án và nguồn thu hoàn trả. Thâm Quyến (Trung Quốc) phát hành trái phiếu chính quyền đô thị quốc tế với các kỳ hạn 2, 3 và 5 năm; Ahmedabad (Ấn Độ) phát hành trái phiếu có xếp hạng tín nhiệm, niêm yết trên thị trường; Pune huy động vốn cho dự án cấp nước qua trái phiếu kỳ hạn 10 năm.

Trong khi đó, Paris (Pháp) phát hành trái phiếu khí hậu gắn với cơ chế phân bổ vốn và báo cáo tác động môi trường. Các trường hợp này cho thấy yêu cầu về lịch sử tín dụng, tính sẵn sàng của dự án và minh bạch dòng tiền.

ttxvn_ha-tang-tphcm3.jpg
Dự án metro Bến Thành-Tham Lương đang được triển khai thi công, từ nguồn vốn đầu tư công. (Ảnh: Tiến Lực/TTXVN)

Theo đề xuất của Công ty cổ phần Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HSC), Thành phố Hồ Chí Minh có thể triển khai theo lộ trình từng bước, bắt đầu bằng thí điểm phát hành trong nước cho dự án có mức độ tín nhiệm cao, qua đó xây dựng lịch sử tín dụng và kiểm nghiệm cơ chế phát hành.

Sau đó, thành phố mở rộng sang trái phiếu xanh, trái phiếu dự án có nguồn thu rõ ràng, nghiên cứu mô hình tài chính hợp vốn và quỹ tài trợ hạ tầng để tập hợp nguồn lực cho các dự án.

Khi đã hình thành lịch sử tín dụng, chuẩn hóa công bố thông tin và có cơ chế quản trị rủi ro tỷ giá, thành phố mới tiến tới phát hành trái phiếu quốc tế bằng ngoại tệ và niêm yết tại các thị trường lớn.

Nhìn từ góc độ các nhà đầu tư, khả năng sinh lời và mức độ an toàn của khoản đầu tư vẫn là mối quan tâm chính. Để tạo niềm tin cho thị trường, việc phát hành trái phiếu đô thị cần có cơ sở pháp lý rõ ràng, minh bạch nghĩa vụ nợ, bảo đảm dự án đủ điều kiện triển khai và xác định nguồn trả nợ bền vững.

Bên cạnh đó, cơ chế công bố thông tin theo chuẩn mực đầu tư, giám sát rủi ro, cảnh báo sớm và xử lý khi phát sinh nghĩa vụ trả nợ cũng đóng vai trò quan trọng.

Khác với trái phiếu Chính phủ, khả năng thanh toán của trái phiếu đô thị gắn với năng lực tài khóa của chính quyền địa phương hoặc dòng tiền hoàn trả từ dự án, tùy theo cấu trúc phát hành. Vì vậy, xếp hạng tín nhiệm độc lập và đánh giá rủi ro tỷ giá là những khâu cần được chú trọng, đặc biệt đối với các dự án có thời gian hoàn vốn dài.

Với trái phiếu phát hành bằng ngoại tệ trong khi nguồn thu chủ yếu bằng đồng Việt Nam, biến động tỷ giá có thể làm gia tăng nghĩa vụ trả nợ và ảnh hưởng đến khả năng thanh toán trong suốt vòng đời trái phiếu.

Để thu hút nhà đầu tư quốc tế, ông Đinh Đức Quang, Giám đốc Khối Kinh doanh Tiền tệ, Ngân hàng UOB Việt Nam, cho rằng Thành phố Hồ Chí Minh cần xây dựng nền tảng xếp hạng tín nhiệm quốc tế, đặc biệt nếu muốn phát hành trái phiếu bằng USD hoặc các đồng tiền nước ngoài. Điều này sẽ giúp nhà đầu tư có cơ sở đánh giá rủi ro; đồng thời hỗ trợ thành phố xác định chi phí huy động vốn phù hợp.

Đối với những dự án có vòng đời 10-20 năm, đại diện UOB cho rằng, nhà đầu tư cần được cung cấp thông tin rõ ràng về tổng mức đầu tư, dòng tiền dự kiến, nguồn thu hoàn trả và các cơ chế hỗ trợ hợp pháp nếu có.

Ông Phùng Xuân Minh, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty cổ phần Sài Gòn Ratings cho rằng, việc mở rộng quyền huy động vốn cần được nhìn nhận đồng thời với trách nhiệm quản lý nợ. Nhà đầu tư không chỉ đánh giá quy mô nền kinh tế hay tiềm năng phát triển của địa phương mà còn xem xét khả năng trả nợ, chất lượng tài sản và dự án, tính minh bạch, khuôn khổ pháp lý và triển vọng tài khóa.

Với trái phiếu công trình, việc thiết lập cơ chế quản lý dòng tiền riêng, ưu tiên thanh toán nghĩa vụ nợ và xây dựng quỹ dự phòng trả nợ sẽ giúp tăng tính minh bạch, nâng cao khả năng bảo vệ nhà đầu tư.

Các chỉ tiêu về khả năng trả nợ, dòng tiền và mức dự phòng cần được xác định phù hợp với đặc điểm từng dự án, thay vì áp dụng một mô hình chung cho toàn bộ danh mục hạ tầng.

Bên cạnh đó, rủi ro tỷ giá là vấn đề cần tính toán ngay từ khâu thiết kế phương án phát hành. Nếu nguồn thu của dự án chủ yếu bằng đồng Việt Nam trong khi nghĩa vụ trả nợ bằng ngoại tệ, biến động tỷ giá có thể làm tăng đáng kể chi phí trả nợ. Vì vậy, việc phát hành trên thị trường quốc tế không mặc nhiên giúp giảm chi phí vốn, bởi lãi suất còn phụ thuộc vào mức độ tín nhiệm của đơn vị phát hành, điều kiện thị trường và khẩu vị rủi ro của nhà đầu tư.

Với nhu cầu vốn hạ tầng ngày càng lớn, các chuyên gia cho rằng, Thành phố Hồ Chí Minh cần đa dạng hóa các kênh huy động, trong đó trái phiếu đô thị qua VIFC có thể bổ sung nguồn vốn trung và dài hạn bên cạnh ngân sách và các kênh tín dụng truyền thống.

Dù vậy, quy mô vốn huy động được sẽ không chỉ phụ thuộc vào tiềm lực kinh tế của thành phố hay khả năng tiếp cận thị trường quốc tế, mà trước hết vào năng lực trả nợ, tính minh bạch và kỷ luật tài khóa. Đây sẽ là những điều kiện quyết định để trái phiếu đô thị trở thành kênh dẫn vốn thực chất cho các công trình hạ tầng trong thời gian tới./.

Mời độc giả theo dõi chùm bài tại đây:

(TTXVN/Vietnam+)
Thành phố Hồ Chí Minh chuẩn bị bước vào chu kỳ đầu tư hạ tầng quy mô lớn, với các dự án metro, đường vành đai, cao tốc, công trình kết nối vùng và chỉnh trang đô thị. Những công trình này cần nguồn vốn dài hạn, trong khi ngân sách thành phố có giới hạn và nhiều dự án phải mất thời gian dài mới hoàn thành, khai thác, thu hồi vốn. Vì vậy, thành phố đang tìm thêm cách huy động nguồn lực, trong đó phát hành trái phiếu đô thị qua Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh được kỳ vọng mở lối tới dòng vốn quốc tế. Theo VietnamPlus thuộc Thông tấn xã Việt Nam, Luật Phát triển đô thị tạo thêm cơ sở pháp lý để thành phố tiếp cận các nguồn vốn dài hạn phục vụ đầu tư hạ tầng. Quốc hội thông qua luật vào tháng 8/2026 và luật dự kiến có hiệu lực từ ngày 1/10/2026, với các cơ chế đặc thù về huy động vốn. Những quy định mới có nội dung liên quan đến phát hành trái phiếu chính quyền địa phương, cũng như vay vốn từ các tổ chức tài chính trong nước và quốc tế. Chuyên gia Huỳnh Văn Sinh, giảng viên Học viện Cán bộ Thành phố Hồ Chí Minh, cho rằng thành phố có thể đa dạng hóa công cụ nợ trên thị trường vốn. Các lựa chọn được đề cập gồm trái phiếu chính quyền địa phương, trái phiếu dự án, trái phiếu công trình, trái phiếu đô thị và trái phiếu xanh. Trong đó, trái phiếu xanh phù hợp với xu hướng tài chính bền vững quốc tế, còn cơ chế phát hành tại Trung tâm Tài chính quốc tế có thể mở thêm khả năng tiếp cận nhà đầu tư toàn cầu. Cơ chế cho phép phát hành trái phiếu đô thị và trái phiếu công trình tại Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam được xem là bước mở rộng không gian huy động vốn. Điều này đặc biệt đáng chú ý khi nhu cầu đầu tư hạ tầng thành phố ngày càng lớn, còn nguồn lực ngân sách không thể đáp ứng mọi yêu cầu. Kênh trái phiếu có thể bổ sung cho ngân sách, tín dụng ngân hàng và vốn đầu tư tư nhân, thay vì thay thế hoàn toàn các nguồn lực hiện có. Trái phiếu đô thị không phải công cụ mới tại Việt Nam, bởi Thành phố Hồ Chí Minh đã có kinh nghiệm phát hành từ khá sớm. Tuy nhiên, các đợt phát hành trước đây chưa diễn ra thường xuyên và quy mô vẫn còn hạn chế so với nhu cầu đầu tư hạ tầng hiện nay. Năm 2020, thành phố huy động 2.000 tỷ đồng thông qua một đợt phát hành trái phiếu chính quyền địa phương. Theo số liệu Bộ Tài chính, đến cuối năm 2025, thị trường trái phiếu Việt Nam đạt quy mô khoảng 3,93 triệu tỷ đồng, tương đương 30,7% GDP ước tính. Trong đó, trái phiếu Chính phủ đạt khoảng 2,62 triệu tỷ đồng, tương đương 20,5% GDP. Dù thị trường đã mở rộng, trái phiếu chính quyền địa phương vẫn chưa trở thành kênh huy động vốn thường xuyên. Ngân hàng Thế giới nhiều lần khuyến nghị phát triển thị trường trái phiếu địa phương, đồng thời nâng cao hiệu quả đầu tư công, minh bạch tài chính và quản lý nợ địa phương. Những khuyến nghị này cho thấy mở rộng quy mô thị trường vốn thôi chưa đủ để tạo niềm tin cho nhà đầu tư dài hạn. Thành phố còn cần cơ chế phát hành minh bạch và hệ thống quản trị nợ đủ vững chắc để chứng minh khả năng sử dụng, hoàn trả nguồn vốn huy động. Với quy mô kinh tế lớn, đóng góp đáng kể vào GDP và nguồn thu ngân sách quốc gia, Thành phố Hồ Chí Minh có nền tảng để phát triển thị trường vốn đô thị. Tuy nhiên, lợi thế kinh tế cần được chuyển hóa thành năng lực tín nhiệm và khả năng trả nợ đủ thuyết phục trước khi trái phiếu trở thành kênh huy động thực chất. Thành phố cũng cần chuẩn bị phương án trả nợ và cơ chế quản trị rủi ro, nhằm tạo cơ sở tin cậy cho nhà đầu tư khi dòng vốn quốc tế được mở rộng.