
Chủ tịch Matrade Reezal Merican trả lời báo chí tại Mihas 2026 - Ảnh: NGỌC ĐỨC
Vài năm gần đây, chuẩn halal bắt đầu nhận được sự quan tâm lớn hơn từ các đơn vị phân phối và người tiêu dùng Việt Nam. Không dừng ở tiêu chuẩn dành cho người Hồi giáo, halal thu hút cả người tiêu dùng phi Hồi giáo nhờ những lợi ích chung về sức khỏe mà nó mang lại.
Tại Triển lãm quốc tế Halal Malaysia (Mihas) 2026 ở thủ đô Kuala Lumpur, hàng chục doanh nghiệp nhập khẩu Việt Nam đã sang nước bạn với hy vọng tìm được nguồn hàng đạt chuẩn halal để phục vụ nhu cầu trong nước.
Nhà phân phối bắt đầu đòi chứng nhận halal

Ông Phù Minh Khánh trao đổi với nhà cung ứng tiềm năng Malaysia tại Mihas 2026 - Ảnh: NGỌC ĐỨC
Chia sẻ với Tuổi Trẻ tại Mihas 2026, ông Phù Minh Khánh, nhà sáng lập Công ty CP TMDV Lão Phù Food, cho biết các nhà hàng, siêu thị mà ông cung cấp hàng đã bắt đầu yêu cầu chứng nhận halal.
Theo ông, sản phẩm phải có chứng nhận halal mới phục vụ được tệp khách Hồi giáo. Ngay cả với khách không theo đạo Hồi, chứng nhận này vẫn có ý nghĩa vì để đạt halal, sản phẩm phải qua một quy trình kiểm định và cấp chứng nhận khắt khe.
Ông Khánh lấy ví dụ cà phê: hạt cà phê phải xuất phát từ vùng trồng được xác nhận sạch, đạt tiêu chuẩn thì mới được cấp chứng nhận halal và xuất khẩu ra nước ngoài.
Halal là từ tiếng Ả Rập, nghĩa là "được phép" theo luật Hồi giáo. Để phục vụ người Hồi giáo, sản phẩm phải được chứng nhận halal.
Với thực phẩm, tiêu chuẩn halal xét cả nguyên liệu, cách giết mổ, chế biến, bảo quản và vận chuyển, tránh nhiễm chéo với sản phẩm không halal.
Để được chứng nhận, doanh nghiệp nộp hồ sơ cho tổ chức chứng nhận, qua thẩm định tài liệu và kiểm tra nhà máy, sau đó được cấp giấy có thời hạn.
Ông Khánh chia sẻ: “Chứng nhận halal rất khó đạt, phải đủ tiêu chuẩn mới có được. Mặt hàng có chứng nhận halal nhập về Việt Nam thì giá thành cao hơn, nhưng bây giờ khách hàng Việt rất chú trọng sức khỏe nên chấp nhận được".
Bà Trần Thị Hà, Công ty TNHH Kang Foods, cho biết giá sản phẩm có chứng nhận halal có thể bị đẩy lên vì để xin được chứng nhận, nhà máy và quy trình sản xuất phải khác đi. Bù lại, có chứng nhận halal thì doanh nghiệp yên tâm bán hàng hơn. Do đó gần đây ở khâu phân phối, người ta đã bắt đầu hỏi về halal.

Bà Trần Thị Hà thử sản phẩm nước mì của một nhà cung cấp mì ăn liền Malaysia - Ảnh: NGỌC ĐỨC
"Tôi không thể đánh giá chắc chắn hàng có halal hay không có halal thì bán chạy hơn, vì còn tùy vào việc chọn mặt hàng phù hợp với thị trường Việt Nam. Nhưng về xu thế thì rõ ràng nhà máy nào cũng muốn có được chứng nhận halal để xuất khẩu nhiều hơn và có nhiều khách hàng chọn lựa hơn", bà Hà nói.
Bà Hà cho biết thêm: "Nếu có được chứng nhận halal thì sẽ mở rộng thêm được khách hàng, tệp khách của mình sẽ nhiều hơn".
Sau một buổi sáng làm việc với các nhà cung cấp tiềm năng, ông Khánh cho biết các mặt hàng thực phẩm Malaysia có ưu điểm phong phú, giá thành rẻ hơn các thị trường khác mà lại được chứng nhận halal.
Tuy nhiên, ông cũng chỉ ra rằng nhiều sản phẩm Việt Nam cũng có, song còn thiếu halal nên chưa tiếp cận được rộng rãi thị trường, để lại khoảng trống lớn cho hàng Việt.
Malaysia muốn "cùng thắng" với Việt Nam
Chia sẻ với Tuổi Trẻ tại Mihas, ông Reezal Merican, Chủ tịch Cơ quan Phát triển ngoại thương Malaysia (Matrade), cho biết Việt Nam và Malaysia có tiềm năng to lớn trong việc thúc đẩy hợp tác halal.
Theo ông Merican, hợp tác halal giữa Việt Nam và Malaysia sẽ bắt đầu từ cấp chính phủ (G2G), sau đó đến cấp doanh nghiệp (B2B), rồi cuối cùng đến doanh nghiệp - người tiêu dùng (B2C).
Ông cho biết Việt Nam hiện đã có trung tâm chứng nhận halal hợp tác với JAKIM, đơn vị quản lý và cấp chứng nhận halal của Malaysia.
Chủ tịch Matrade nói: "Tôi thấy Việt Nam là một trong những đối tác tiềm năng nhất. Tại Đông Nam Á, Việt Nam đang là nước có kim ngạch xuất khẩu lớn thứ 2. Xếp ngay sau đó là Malaysia ở vị trí thứ 3. Chúng tôi luôn xem Việt Nam là một 'đối thủ thân thiện', nhưng lúc này cũng muốn tạo bầu không khí cùng có lợi, cùng thắng cho cả hai".
Theo ông Merican, halal không chỉ gói gọn trong nguyên liệu, cách chế biến sản phẩm mà còn trải rộng ra toàn vòng đời sản phẩm.
Muốn làm thực phẩm thì nguyên liệu phải halal, bao bì cũng phải halal. Bao bì không đạt chuẩn thì cả sản phẩm coi như bị nhiễm bẩn. Sau bao bì là khâu logistics cũng phải đạt chuẩn halal.

Các doanh nghiệp giới thiệu mặt hàng và trao đổi về cơ hội hợp tác tại Mihas - Ảnh: NGỌC ĐỨC
"Container halal không được lẫn tạp. Một lần chở hàng halal, lần khác chở hàng không halal trong cùng container sẽ bị đặt dấu hỏi. Theo quy trình chứng nhận JAKIM, đây đều là các bước rất nghiêm ngặt. Vì vậy chứng nhận halal JAKIM được coi là tiêu chuẩn vàng, bao trùm toàn chuỗi từ đầu đến cuối", ông nói.
Chủ tịch Matrade cũng nhấn mạnh nhu cầu halal không chỉ giới hạn ở các nước đông dân Hồi giáo.
Ông lấy ví dụ New Zealand. Dù không phải nước đông dân Hồi giáo, khoảng 70% lò mổ ở đây đạt chuẩn halal để phục vụ xuất khẩu, hướng đến thị trường khoảng 2 tỉ người Hồi giáo.
Tại Đông Nam Á, các nước ASEAN cũng ngày càng quan tâm rõ rệt đến halal. Ông Merican cho biết Phó thủ tướng Malaysia Ahmad Zahid Hamidi, đồng thời là Chủ tịch Hội đồng Phát triển halal Malaysia, gần đây đã đề xuất ý tưởng thành lập Hội đồng halal ASEAN.
Khai mạc triển lãm halal lớn nhất thế giới
Ngày 23-9, Triển lãm Mihas lần thứ 22 năm 2026 chính thức khởi động, kéo dài đến ngày 26-9.
Triển lãm halal của Malaysia được kỷ lục Guinness công nhận là triển lãm thương mại halal có lượng khách đông nhất thế giới vào năm 2023.
Triển lãm bao gồm 14 lĩnh vực, từ thực phẩm - đồ uống, dược phẩm đến tài chính Hồi giáo, thời trang kín đáo, chăm sóc cá nhân, công nghệ, dịch vụ và du lịch thân thiện với người Hồi giáo.
Năm nay, triển lãm tập trung vào mô hình quản trị tích hợp quy chuẩn ngay từ khâu thiết kế và thương mại ứng dụng công nghệ.
Điểm nhấn triển lãm là Chương trình Kết nối nguồn cung quốc tế (INSP), với hơn 4.000 cuộc gặp B2B được sắp xếp trước giữa doanh nghiệp xuất khẩu Malaysia và 450 người mua quốc tế đến từ 58 nền kinh tế.
Các địa phương phía Nam còn lúng túng với tiêu chuẩn Halal do khác biệt giữa các thị trường. Các đại sứ Việt Nam tại nước ngoài và Bộ Ngoại giao đã đề xuất hướng tiếp cận phù hợp, đồng thời gợi ý cơ chế hỗ trợ nhằm tháo gỡ và mở rộng thị trường.