Thông tin được PGS.TS Đào Việt Hằng, Phó giám đốc Trung tâm Nội soi, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội, chia sẻ tại hội nghị khoa học quốc tế Cập nhật các tiến bộ mới trong quản lý bệnh tiêu hóa và gan mật, hôm 25/10 tại Hà Nội, nhân kỷ niệm 8 năm thành lập Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hóa, Gan mật.
Theo số liệu GLOBOCAN 2024 của Cơ quan Nghiên cứu Ung thư Quốc tế (IARC) vừa công bố hồi tháng 7, Việt Nam ước tính ghi nhận 177.404 ca ung thư mới và 111.015 trường hợp tử vong do ung thư trong năm. Trong đó, ung thư gan và đường mật trong gan có khoảng 14.500 ca mắc mới, đứng thứ tư về số ca mắc, sau ung thư vú, phổi và đại trực tràng. Tuy nhiên, với hơn 13.660 trường hợp tử vong, nhóm bệnh này đứng thứ hai về số ca tử vong do ung thư, chỉ sau ung thư phổi.
"So với Globocan 2022, số mắc ung thư gan mới đã giảm 2 bậc. Song, loại ung thư này vẫn thuộc nhóm ác tính gây tử vong nhiều nhất Việt Nam", PGS Hằng nói, thêm rằng khoảng cách giữa số ca mắc mới và số trường hợp tử vong cho thấy gánh nặng đáng kể của bệnh, đồng thời đặt ra yêu cầu cấp thiết về phòng ngừa, phát hiện sớm và quản lý các nhóm nguy cơ cao.
PGS Hằng cho hay theo các nghiên cứu tại cả miền Bắc và miền Nam, khoảng 50-80% bệnh nhân ung thư gan được chẩn đoán ở giai đoạn muộn. Điều này làm giảm cơ hội điều trị triệt để, đồng thời khiến quá trình điều trị phức tạp và đòi hỏi phối hợp nhiều chuyên khoa.
Bà lý giải ung thư gan thường xuất hiện trên nền bệnh gan mạn tính như viêm gan B, viêm gan C hoặc bệnh gan liên quan đến rượu. Ở giai đoạn đầu, khi chức năng gan còn tốt, người bệnh có thể không có triệu chứng rõ rệt. Đến khi khối u phát triển hoặc chức năng gan suy giảm, các dấu hiệu bất thường mới xuất hiện, khiến người bệnh đi khám khi bệnh đã ở giai đoạn tiến triển.
Trong điều trị, các phương pháp hiện nay ngày càng hướng tới phối hợp đa mô thức. Với bệnh nhân phát hiện sớm, bác sĩ có thể cân nhắc đốt sóng cao tần, phẫu thuật cắt gan hoặc ghép gan tùy tình trạng bệnh và điều kiện đáp ứng. Ở giai đoạn tiến triển, các lựa chọn có thể gồm nút mạch, truyền hóa chất, thuốc điều trị đích và liệu pháp miễn dịch. Dù vậy, khi bệnh được phát hiện muộn, khả năng điều trị triệt để thường giảm đáng kể.
Một hướng phát triển đáng chú ý là mở rộng các công cụ phát hiện sớm, trong đó có dấu ấn sinh học, nhằm tăng khả năng nhận diện bệnh. Nhóm nghiên cứu của bà Hằng cũng đang triển khai đề tài cấp Bộ về ứng dụng DNA khối u lưu hành (ctDNA) trong nước tiểu, kỳ vọng mở ra thêm phương pháp hỗ trợ phát hiện ung thư gan sớm.
Một bệnh nhân được nội soi đường tiêu hóa. Ảnh. Lê Nga
Ở lĩnh vực nội soi tiêu hóa, GS.TS Đào Văn Long, Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hóa, Gan mật, cho biết sự phát triển của nội soi độ phân giải cao, công nghệ nhuộm màu ảo, phóng đại hình ảnh và các chế độ ánh sáng chuyên biệt giúp bác sĩ quan sát rõ cấu trúc niêm mạc, nhận diện những tổn thương nghi ngờ ung thư từ giai đoạn sớm.
Các công nghệ này được kết hợp với trí tuệ nhân tạo (AI) nhằm nâng cao hiệu quả phát hiện tổn thương. AI có thể cải thiện độ chính xác, độ nhạy, độ đặc hiệu, rút ngắn thời gian nhận diện và giảm sự phụ thuộc vào kinh nghiệm của bác sĩ nội soi.
Tại hội nghị, bà Võ Thị Nhị Hà, đại diện Cục Khoa học công nghệ và Đào tạo (Bộ Y tế), đánh giá cao các nghiên cứu có khả năng ứng dụng thực tiễn, đặc biệt là việc đưa AI vào hỗ trợ chẩn đoán bệnh lý tiêu hóa. Bà cho rằng viện có thể nghiên cứu xây dựng mô hình trung tâm đổi mới sáng tạo chuyên sâu về tiêu hóa, gan mật, đồng thời kết nối các kết quả nghiên cứu với doanh nghiệp và cơ sở khám, chữa bệnh để thúc đẩy chuyển giao công nghệ.
Lê Nga