Ranh đất chồng lấn, hàng xóm đưa nhau ra tòa
Theo trình bày của bà S. (ngụ tại tỉnh Bình Phước trước đây, nay thuộc TP Đồng Nai), bà có quyền sử dụng đối với thửa đất 863m2 tại tỉnh Bình Phước cũ.
Nguồn gốc đất bắt đầu từ năm 1991, khi gia đình bà được bố trí ở nhà tập thể của xí nghiệp xây dựng. Sau đó, gia đình mua lại căn nhà và đến năm 2010 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên mẹ bà S.
Sau khi cha bà S. qua đời, gia đình làm thủ tục thừa kế và hợp thửa, hình thành thửa đất như hiện nay. Thửa đất của bà S. giáp đất của ông T. và ông A.
Năm 2023, khi bà S. xây dựng lại cổng, các bên phát sinh tranh chấp về ranh giới đất. Kết quả đo đạc cho thấy ranh giới sử dụng giữa các thửa có nhiều phần diện tích chồng lấn.
Bà S. khởi kiện, yêu cầu ông T. trả lại các phần đất bị cho là lấn chiếm. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông T. tiếp tục xây dựng nhà và công trình phụ. Bà S. cho rằng một phần công trình mới cũng nằm trên đất của mình nên bổ sung yêu cầu buộc tháo dỡ.
Ở chiều ngược lại, ông T. cho biết gia đình ông đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ năm 2002, trước thời điểm gia đình bà S. được cấp giấy chứng nhận.
Ông T. cũng có yêu cầu phản tố, đề nghị bà S. trả lại tổng cộng 27,2m2 đất mà ông cho rằng bà đang sử dụng lấn sang thửa đất của ông
Đối với phần đất giáp thửa của ông A., ông cho rằng diện tích bà S. sử dụng lấn sang đất của ông là 18,4m2. Ông yêu cầu được nhận lại phần diện tích này.
Không buộc tháo dỡ nhà lấn chiếm do ảnh hưởng kết cấu chung
Xét xử sơ thẩm, TAND khu vực 10 - Đồng Nai buộc ông T. trả lại 3,6m2 đất và tháo dỡ phần căn nhà xây trên diện tích này. Tuy nhiên, sau khi ông T. kháng cáo, cấp phúc thẩm sửa bản án, không buộc tháo dỡ mà buộc ông T. thanh toán cho bà S. giá trị quyền sử dụng 3,6m2 đất.
Tòa sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của bà S. về việc buộc ông T. trả thêm 4,9m2 và 2,8m2 đất trống cùng 2,4m2 nhà tạm. Yêu cầu phản tố của ông T. về việc buộc bà S. trả 27,2m2 đất cũng không được chấp nhận.
Riêng đối với phần đất giáp với thửa đất của ông A., Tòa sơ thẩm công nhận sự thỏa thuận giữa bà S. và ông A. Theo đó, bà S. trả lại cho ông A. 18,4m2 đất.
Không đồng ý với phán quyết trên, ông T. kháng cáo. Tại phiên phúc thẩm, TAND TP Đồng Nai nhận định rằng ranh giới giữa các thửa đất đã được các gia đình sử dụng ổn định trong thời gian dài nhưng không hoàn toàn trùng khớp với ranh giới thể hiện trên giấy chứng nhận.
Phần công trình mới xây của ông T. có diện tích 3,6m2 nằm trong thửa đất được xác định thuộc quyền sử dụng của bà S. Tuy nhiên, công trình này được xây dựng kiên cố, là một phần của căn nhà và việc tháo dỡ có thể ảnh hưởng lớn đến kết cấu chung.
Trong khi đó, thực tế cũng cho thấy bà S. đang sử dụng 18,4m2 đất thuộc thửa đất của ông A. Tòa nhận định tình trạng chồng lấn có nguyên nhân từ việc ranh giới sử dụng đất giữa các bên chưa được xác định rõ ràng, ổn định.
Từ đó, TAND TP Đồng Nai chấp nhận một phần kháng cáo của ông T., sửa bản án sơ thẩm theo hướng không buộc tháo dỡ công trình, mà buộc ông T. bồi thường cho bà S. giá trị 3,6m2 đất, tương đương gần 3,5 triệu đồng.
Đồng thời, ông T. phải di dời một cọc bê tông nằm trên đất bà S. Các yêu cầu của bà S. về 4,9m2 và 2,8m2 đất trống cùng 2,4m2 nhà tạm không được chấp nhận. Yêu cầu phản tố của ông T. đòi bà S. trả 27,2m2 đất cũng bị bác.
(Tham khảo Bản án số 664/2026/DS-PT ngày 3/9/2026 của TAND TP Đồng Nai)