Bỏ qua điều hướng
•

5 loại virus, vi khuẩn gây gần 1/8 ca ung thư toàn cầu

5 loại virus, vi khuẩn gây gần 1/8 ca ung thư toàn cầu
Nguồn ảnh: VnExpress

HPV, virus viêm gan B và C, Epstein-Barr (EBV), vi khuẩn Helicobacter pylori gây ra khoảng 2,3 triệu ca ung thư mới, tương đương gần 1/8 ca trên toàn cầu năm 2024.

Thông tin được Gavi trích dẫn từ phân tích của Cơ quan Nghiên cứu Ung thư Quốc tế (IARC), công bố tại tạp chí The Lancet vào đầu tháng 10. Các tác nhân cụ thể được IARC liệt kê dưới đây:

Vi khuẩn Helicobacter pylori

Helicobacter pylori (H. pylori) là loại vi khuẩn sống trong niêm mạc dạ dày. Vi khuẩn thường xâm nhập từ thời thơ ấu và có thể tồn tại hàng chục năm nếu không được điều trị.

H. pylori có thể gây viêm kéo dài và biến đổi tế bào, làm tăng nguy cơ mắc ung thư. Theo phân tích của IARC, vi khuẩn này liên quan tới khoảng 760.000 ca ung thư trên toàn cầu trong năm 2024, tương đương khoảng 4% tổng số ca ung thư được chẩn đoán năm đó.

Dù vậy, đến nay chỉ một số ít quốc gia triển khai chương trình sàng lọc và điều trị H. pylori trên quy mô dân số. Vaccine phòng vi khuẩn này cũng đang được nghiên cứu phát triển.

HPV

HPV liên quan tới khoảng 750.000 ca ung thư trên toàn cầu trong năm 2024, tương đương khoảng 4% số ca ung thư mới. Đây là virus rất phổ biến, ước tính khoảng 80% dân số nhiễm ít nhất một lần trong đời. Phần lớn trường hợp tự khỏi, song nhiễm kéo dài một số chủng nguy cơ cao là nguyên nhân của gần như toàn bộ ca ung thư cổ tử cung, đồng thời liên quan tới một tỷ lệ ung thư hậu môn, dương vật, âm đạo, âm hộ và vùng họng.

Hơn hai thập kỷ nghiên cứu cho thấy vaccine HPV làm giảm rõ rệt tình trạng nhiễm HPV kéo dài và các tổn thương tiền ung thư ở cổ tử cung. Những nghiên cứu trong thực tế cũng ghi nhận tỷ lệ ung thư cổ tử cung giảm tại các quốc gia triển khai tiêm vaccine sớm.

Bác sĩ tư vấn sức khỏe cho người bệnh. Nhiều loại ung thư liên quan đến nhiễm trùng có thể giảm nguy cơ nhờ tiêm chủng, xét nghiệm, điều trị và sàng lọc phù hợp. Ảnh minh họa: Vecteezy

Bác sĩ tư vấn sức khỏe cho người bệnh. Nhiều loại ung thư liên quan đến nhiễm trùng có thể giảm nguy cơ nhờ tiêm chủng, xét nghiệm, điều trị và sàng lọc phù hợp. Ảnh minh họa: Vecteezy

Virus viêm gan B

Virus viêm gan B liên quan tới khoảng 360.000 ca ung thư trên toàn cầu trong năm 2024, chiếm khoảng 2% số ca ung thư mới. Virus tấn công gan, gây bệnh gan mạn tính, khi gây viêm và tổn thương kéo dài có thể dẫn đến xơ gan hoặc ung thư gan.

Viêm gan B có thể phòng ngừa bằng vaccine. Do nguy cơ chuyển thành mạn tính đặc biệt cao nếu lây nhiễm từ sớm, Tổ chức Y tế Thế giới khuyến cáo mọi trẻ sơ sinh cần tiêm mũi vaccine viêm gan B đầu tiên trong vòng 24 giờ sau sinh, sau đó tiêm thêm hai hoặc ba mũi.

Tiêm đủ liệu trình giúp bảo vệ 98-100% trước nguy cơ nhiễm virus; hiệu quả có thể kéo dài hàng chục năm và nhiều khả năng suốt đời.

Virus Epstein-Barr (EBV)

EBV liên quan tới khoảng 260.000 ca ung thư trong năm 2024, là tác nhân nhiễm trùng gây ung thư đứng thứ tư trên thế giới. Virus này rất phổ biến, lây nhiễm cho khoảng 95% dân số toàn cầu và tồn tại trong cơ thể suốt đời.

Phần lớn trường hợp nhiễm hầu như không có triệu chứng. Tuy nhiên, nếu lần đầu nhiễm virus ở tuổi vị thành niên hoặc trưởng thành, người bệnh có thể mắc bệnh tăng bạch cầu đơn nhân nhiễm trùng.

EBV còn góp phần vào sự hình thành một số ung thư như u lympho Burkitt, u lympho Hodgkin và ung thư vòm họng. Ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy virus cũng liên quan đến ung thư dạ dày. Hiện chưa có vaccine EBV được cấp phép, song một số ứng viên vaccine đang trong quá trình phát triển.

Virus viêm gan C

Virus viêm gan C liên quan tới khoảng 160.000 ca ung thư trên toàn cầu trong năm 2024. Tương tự viêm gan B, virus tấn công gan và có thể gây nhiễm trùng kéo dài, cuối cùng dẫn đến xơ gan hoặc ung thư gan.

Hiện chưa có vaccine phòng viêm gan C, dù các nhà khoa học đang nỗ lực phát triển. Tuy vậy, một liệu trình thuốc kháng virus ngắn ngày có thể chữa khỏi hơn 95% trường hợp nhiễm và làm giảm đáng kể nguy cơ ung thư gan.

Viêm gan C có thể âm thầm gây bệnh trong nhiều năm, khiến nhiều người không biết mình đã nhiễm. Trên phạm vi toàn cầu, khả năng tiếp cận chẩn đoán và điều trị cũng còn hạn chế.

Các tác nhân khác

Ngoài 5 tác nhân chính, IARC còn xem xét 7 tác nhân khác có thể trực tiếp hoặc gián tiếp làm tăng nguy cơ ung thư. Nhóm này gồm ba loại virus liên quan đến một số ung thư ở da, máu và hệ bạch huyết. Ba loại giun, sán ký sinh có thể gây tổn thương kéo dài ở bàng quang hoặc đường mật, từ đó làm tăng nguy cơ ung thư tại những cơ quan này.

HIV cũng được đưa vào phân tích. Virus không trực tiếp gây ung thư nhưng làm suy yếu hệ miễn dịch, khiến cơ thể khó kiểm soát các tác nhân nhiễm trùng có khả năng dẫn đến ung thư.

"Các phát hiện cho thấy kiểm soát nhiễm trùng có thể đóng vai trò rất lớn trong việc giảm gánh nặng ung thư toàn cầu", đồng tác giả nghiên cứu, Tiến sĩ Harriet Rumgay thuộc Ban Giám sát Ung thư của IARC, cho biết.

Hiện nhiều loại ung thư liên quan đến nhiễm trùng có thể phòng ngừa bằng các biện pháp như: tiêm vaccine, sàng lọc HPV và viêm gan B; xét nghiệm, điều trị H. pylori và viêm gan virus.

Vaccine HPV có hai loại gồm: Gardasil tiêm cho phụ nữ tuổi 9-26 và Gardasil 9 tiêm cho cả nam và nữ tuổi 9-45. Trẻ 9-14 tuổi cần hai mũi cách nhau tối thiểu 6 tháng. Người 15-45 tuổi tiêm ba mũi trong vòng 6 tháng. Người quên lịch tiêm hoặc trễ lịch tiêm, không cần tiêm lại từ đầu, sẽ tiêm tiếp theo liệu trình phù hợp.

Với viêm gan B, vaccine có loại đơn và phối hợp phòng thêm bệnh viêm gan A trong cùng mũi tiêm; loại kết hợp có thành phần viêm gan B như 5 trong 1, 6 trong 1. Trẻ sơ sinh cần tiêm 1 mũi vaccine viêm gan B trong vòng 24 giờ đầu sau sinh, sau đó trẻ cần theo sát lịch tiêm ngừa vaccine 5 trong 1 hoặc 6 trong 1. Người lớn cần tiêm ba mũi trong 6 tháng, xét nghiệm viêm gan B trước chủng ngừa.

Văn Hà (theo Gavi, Lancet)

Phân tích của Cơ quan Nghiên cứu Ung thư Quốc tế công bố trên tạp chí The Lancet chỉ ra 5 tác nhân nhiễm trùng gồm H. pylori, HPV, virus viêm gan B, C và EBV gây ra khoảng 2,3 triệu ca ung thư mới năm 2024. Con số này chiếm gần 1/8 tổng số ca mắc ung thư trên toàn cầu, phản ánh gánh nặng y tế lớn từ các bệnh truyền nhiễm kéo dài. Nhiều dạng ung thư nguy hiểm hoàn toàn có thể chủ động phòng ngừa hoặc tầm soát sớm nếu có giải pháp can thiệp y tế kịp thời. Trong số các tác nhân này, vi khuẩn Helicobacter pylori dẫn đầu khi liên quan đến khoảng 760.000 ca ung thư dạ dày do tình trạng viêm niêm mạc mạn tính kéo dài từ thời thơ ấu. Theo sát là virus HPV với khoảng 750.000 ca mắc mới, đứng đằng sau hầu hết các trường hợp ung thư cổ tử cung cùng nhiều loại ung thư vùng sinh dục và vòm họng. Dù vắc xin HPV và các chương trình sàng lọc đã chứng minh hiệu quả rõ rệt tại nhiều quốc gia, việc triển khai tầm soát H. pylori trên quy mô dân số vẫn còn khá hạn chế. Bên cạnh đó, virus viêm gan B và Epstein-Barr lần lượt liên quan đến 360.000 và 260.000 ca ung thư mới trong năm, tấn công chủ yếu vào gan, hệ thống bạch huyết cùng vùng vòm họng. Trong khi viêm gan B có thể phòng ngừa hiệu quả tới 98% đến 100% nhờ vắc xin tiêm trong 24 giờ đầu sau sinh, EBV hiện vẫn chưa có giải pháp vắc xin phòng ngừa đặc hiệu. Việc mở rộng quy mô tiêm chủng, xét nghiệm định kỳ và điều trị sớm các bệnh nhiễm trùng là chìa khóa then chốt giúp giảm thiểu tỷ lệ mắc ung thư trên toàn thế giới.