Bỏ qua điều hướng
•

Bài toán khó: Phim trường trong lòng di sản

Bài toán khó: Phim trường trong lòng di sản
Nguồn ảnh: Nhân Dân

Thông qua điện ảnh, di sản đi vào đời sống đương đại, trở thành chất liệu cho sáng tác. Tuy vậy, trước nguy cơ đe dọa tính toàn vẹn của di sản, đã có nhiều câu hỏi sao cho vừa giữ được di sản, vừa tạo điều kiện cho điện ảnh trở thành cầu nối quá khứ với hôm nay?

Khi bối cảnh là di sản

Tràng An, Tam Cốc, Bích Động (Ninh Bình) hay những danh thắng nổi tiếng như Hạ Long (Quảng Ninh), Bàu Trắng (Lâm Đồng)… đang xuất hiện trong các dự án điện ảnh. Gần đây nhất, phim “Hộ linh tráng sĩ” chọn bối cảnh Ninh Bình, tiếp nối những bộ phim điện ảnh trước đó như “Đông Dương”, “Kong: Đảo Đầu Lâu”, “Người Mỹ trầm lặng”, “Mùa hè chiều thẳng đứng”, “Tấm Cám chuyện chưa kể”. Những năm gần đây, nhờ sự hỗ trợ của chính quyền địa phương, đoàn phim ghi hình thuận lợi hơn. Một số địa phương khác cũng đang bắt đầu nhận ra tiềm năng quảng bá du lịch thông qua điện ảnh và bước đầu có những chính sách hỗ trợ, không chỉ với các đạo diễn, nhà sản xuất tên tuổi mà còn hướng đến các đạo diễn trẻ.

Tuy vậy, bối cảnh, trong đó có các danh thắng, công trình kiến trúc, di tích lịch sử… vẫn luôn cần đặt trong quy chế bảo vệ, trong đó có Luật Di sản với những giá trị vật thể và phi vật thể đã được công nhận. Điều đó có nghĩa là không được làm phương hại đến di sản dù trong bất cứ hoạt động sản xuất phim hay phục vụ chương trình biểu diễn nào. UNESCO luôn khuyến khích làm sống dậy các giá trị di sản thông qua nghệ thuật, với triết lý “di sản phải thuộc về nhân loại. Điện ảnh sẽ giúp cho di sản đến với nhân loại nhưng bảo tồn vẫn luôn là ưu tiên số một”. Như vậy, thực tế luôn đặt ra bài toán cân bằng giữa bảo vệ di sản và không gian sáng tạo tự do cho các nhà làm phim.

121.jpg
Cảnh trong phim “Hộ linh tráng sĩ” (2026) quay tại Ninh Bình.

Nhiều khoảng trống ở trong nước

Với các hoạt động sáng tạo, quay phim và các hoạt động phi thương mại tại các khu di sản, các quốc gia có cách tiếp cận khá đa dạng. Xây dựng bối cảnh phim trường là cách tiếp cận phổ biến ở Trung Quốc. Quy định về bảo tồn di sản năm 2024 tại nước này cấm hoàn toàn tất cả hoạt động quay phim có mục đích thương mại, trong đó bao gồm cả điện ảnh tại các điểm di sản. Giải pháp mà họ đưa ra là xây dựng phim trường theo tỷ lệ 1:1, tiêu biểu nhất là phim trường Hoành Điếm. Điều đó giúp tách bạch câu chuyện bảo tồn và phát triển, sự tác động vào di sản hầu như bằng 0.

Hàn Quốc lại coi điện ảnh là phương tiện xây dựng sức mạnh mềm văn hóa. Điện ảnh không thể tách rời không gian di sản, với mục đích bảo đảm tính xác thực cũng như cảm hứng chân thực trên màn ảnh, đặc biệt với những tác phẩm điện ảnh hư cấu khi quay tại di sản. Bên cạnh đó, họ coi đó là công cụ quảng bá di sản, thúc đẩy du lịch.

Kinh nghiệm quốc tế cũng cho thấy nhiều nước đã đi trước. Trong đó Campuchia ban hành hướng dẫn quay phim gắn với di sản từ năm 2024, hay Hàn Quốc kết hợp linh hoạt giữa quảng bá du lịch và quy định bảo vệ nghiêm ngặt. Với Hàn Quốc, bên cạnh câu chuyện hướng dẫn, khuyến khích sáng tạo gắn liền với di sản, nước này còn xây dựng cơ chế bồi hoàn chi phí cho đoàn làm phim khi đến quay tại các điểm di tích khi cho rằng đó chính là chi phí thúc đẩy du lịch và quảng bá điểm đến.

Tuy vậy, Việt Nam chưa có điều kiện đủ như Trung Quốc và thực tế, dường như chúng ta đang đi theo cách của Hàn Quốc. Nhưng cái thiếu là chưa có hướng dẫn cho việc quay phim cũng như các chương trình gắn kết điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn với di sản. Đang có khoảng trống pháp lý khi các đoàn phim khó xác định ranh giới được phép can thiệp và can thiệp ở mức độ nào vào không gian di tích.

Đơn vị quản lý di sản cũng không có chế tài hay tiêu chí chuẩn để thẩm định mức độ ảnh hưởng của thiết bị, âm thanh, ánh sáng. Do thiếu phim trường quy mô lớn, các nhà làm phim lịch sử, cổ trang buộc phải tận dụng di tích thật làm bối cảnh, dễ dẫn đến nguy cơ xâm hại hiện vật gốc nếu thiếu giám sát chặt chẽ.

PHƯƠNG THÚY

Việc các danh thắng như Tràng An, Tam Cốc, Bích Động hay vịnh Hạ Long liên tục xuất hiện trong các tác phẩm điện ảnh từ "Đông Dương", "Kong: Đảo Đầu Lâu" đến "Hộ linh tráng sĩ" (2026) khẳng định tiềm năng quảng bá du lịch to lớn của nghệ thuật thứ bảy. Nhận thức rõ cơ hội này, chính quyền nhiều địa phương đã chủ động ban hành chính sách hỗ trợ đoàn làm phim nhằm đưa hình ảnh quê hương ra thế giới. Tuy nhiên, ranh giới giữa việc khai thác bối cảnh và bảo đảm tính toàn vẹn của di tích theo quy định của Luật Di sản vẫn là áp lực thường trực. Trên thế giới, các quốc gia áp dụng nhiều mô hình quản lý linh hoạt để giải quyết xung đột lợi ích này. Điển hình như Trung Quốc từ năm 2024 đã cấm quay phim thương mại tại điểm di sản và chuyển toàn bộ sang các phim trường quy mô như Hoành Điếm để đưa mức độ tác động về con số không. Trong khi đó, Hàn Quốc chọn gắn điện ảnh với không gian thực để gia tăng sức mạnh mềm văn hóa, đồng thời áp dụng cơ chế bồi hoàn chi phí kết hợp giám sát bảo tồn nghiêm ngặt. Thực tế phát triển cho thấy Việt Nam đang tiếp cận gần hơn với xu hướng của Hàn Quốc thay vì mô hình phim trường tốn kém như Trung Quốc. Dù vậy, các nhà quản lý trong nước vẫn đang đối mặt với khoảng trống lớn về quy chế hướng dẫn chi tiết và chế tài bảo vệ thực địa như cách Campuchia hay Hàn Quốc đã chuẩn hóa. Để điện ảnh phát huy đúng vai trò cầu nối lịch sử theo khuyến nghị của UNESCO, ưu tiên hàng đầu vẫn phải là bảo vệ nguyên trạng giá trị di sản trước mọi hoạt động sáng tạo.
amung